Yêu thương nơi băng ghế nhỏ

Đôi khi, điều duy nhất chúng ta cần làm, đơn giản chỉ là lắng nghe.
***
Đó là một chiếc ghế dài rất bình thường. Chẳng có điều gì đặc biệt về nó cả. Chỉ là một băng ghế gỗ ở công viên với cái lưng cong, các thanh gỗ màu xanh da trời đã xỉn lại và mục. Nó được đặt ngay cạnh con đường mòn chạy bộ, nhìn ra một chỗ trũng nhỏ dẫn đến một cái ao, cũng chẳng có gì đáng lưu ý đến việc nó có quan trọng hay không.

Có một ông lão vẫn đến đây và ngồi trên chiếc ghế ấy hầu hết vào mỗi sáng thứ 7 và Chủ nhật. Thỉnh thoảng ông ta sẽ mang đến một bữa ăn nhẹ để ăn trưa, và ông luôn mang theo một chai nước, một túi hạt cho những chú sóc, và một chút bánh mì cho mấy con vịt bầu.

Ông ấy cũng đem đến những thứ mà bạn không thể nào nhìn ra được: từ bi, trí tuệ, lòng tốt, sự hài hước và những trải nghiệm được hình thành bởi thời gian. Ông đã sống cuộc đời này lâu nhất có thể và yêu thương tất cả những gì có thể.

“Ông ơi, sao ông ngồi đây được cả ngày trời vậy?”
Một cậu bé khoảng 12 tuổi cất tiếng. Cậu ta nhìn thấy ông lão mỗi lần cậu đến công viên này chơi trượt ván. Hôm nay là lần đầu tiên cậu nói chuyện với ông lão.

Ông lão mỉm cười: “Vậy cháu thì sao? Làm thế nào mà cháu có thể trượt ván được cả ngày thế?”
“Bởi vì nó vui, và cháu thì chơi nó rất giỏi.”

“Ồ, đó là lý do ta ngồi ở đây. Nó cũng vui và ta cũng rất giỏi về nó.”
“Cái quái gì chứ,” cậu bé thầm nghĩ, “Đừng nói là ngồi trên ghế cả ngày cũng vui đấy chứ?”

“Ông lẩn thẩn mất rồi! Không đời nào ngồi đó mà lại vui vẻ, thoải mái được.”
“Ta lẩn thẩn ư? Cháu làm được những động tác đáng kinh ngạc trên rào chắn, rồi văng ra khỏi ván trượt, lăn trên nền xi măng không cần một tí sự bảo vệ nào. Một cú kinh điển như thế mà cháu không hề nhớ gì về nó sao?”

Cậu bé vừa tự hào vừa tức giận. Cậu ta vui vì ông lão đã nhận ra được kĩ xảo đó khó đến mức nào, nhưng cậu ta cũng tức giận quá chừng vì cậu biết cú ngã đó làm cậu đau đớn ra sao.

“Cháu vẫn chưa nhớ ra được.”
“Cứ từ từ thôi”. Ông lão cười.

“Ông có nghĩ là cháu bị chấn động hay là bị gì đó không?”
“Không. Ta biết rằng cháu sẽ bị chấn động. Chỉ là ta không biết nó tệ ra sao thôi.”

“Ông biết gì đó về trượt ván không?”
“Không nhiều, nhưng ta biết Tony Hawk đội mũ bảo vệ. Ta biết Mullen, Gonzalez và Burnquist , đều đội mũ bảo vệ. Và ta biết, cháu cũng nên thế.”

Cậu bé đá bật tấm ván của mình lên, bước tới bên chiếc ghế dài và nói chuyện cùng ông lão. Cậu ta đã rất ngạc nhiên rằng ông lão biết rất nhiều những người trượt ván nổi tiếng. Cậu ta tâm sự với ông lão rằng cậu không học được, cậu có hai người anh trai, mẹ cậu thì làm hai công việc, và mua một chiếc nón bảo vệ là điều không thể. Cậu thậm chí còn không đủ khả năng mua những chiếc bánh xe mới của tấm ván.

“Cháu sẽ đến đây vào ngày mai chứ?”
“Chắc chắn rồi, cháu luôn trượt ván vào Chủ nhật.”
“Được thôi, vậy gặp lại cháu sau.”

Ngày hôm sau, Chủ nhật, ông lão vẫy cậu bé lại bên băng ghế.
“Đây. Ta nghĩ cháu có thể thích những thứ này.”
Trong túi là một chiếc mũ bảo hiểm, một bộ đầy đủ bánh xe, và 5 tấm đề can của những người trượt ván nổi tiếng.

“Ôi chúa ơi, cháu cảm ơn ông nhiều lắm. Wow. Thật là bá cháy!”
“Ồ, ta còn muốn cháu đưa thứ này cho mẹ cháu nữa.”
Ông lão chìa ra một chiếc túi khác. Trong chiếc túi này, có một hộp sô-cô-la siêu bự, và một tấm thiếp.

“Cái này để làm gì vậy ông? Ông không biết mẹ cháu.”
“Không. Nhưng ông thì chẳng bao giờ thiếu sô-cô-la cho phụ nữ (ông cười hóm hỉnh). Nếu mẹ cháu đang một mình nuôi ba người con, bà ấy sẽ không nhận được nhiều niềm vui. Với hộp sô-cô-la này, bà ấy có thể chọn những cái bà ấy muốn ăn, và tin ta đi, điều đó sẽ giúp mẹ cháu thư giãn. Còn tấm thiệp này dành cho bà ấy, không phải cho cháu.”
“Dù sao đi nữa… Cháu sẽ đưa cho mẹ. Cháu cảm ơn ông ạ.”

Một vài tuần sau đó, cậu bé trượt ván nhìn thấy ông lão trên băng ghế, và cậu đến ngay cạnh ông nói chuyện.
“Mẹ cháu nhờ cháu cảm ơn ông về hộp bánh, mẹ cháu đã khóc khi đọc tấm thiệp của ông. Ông đã viết gì trong tấm thiệp thế? Mẹ cháu không nói cho cháu biết. Mẹ đã đọc nó rất nhiều lần.”
“Ồ, không nhiều. Ta nói với bà ấy rằng bà ấy là một người mẹ vĩ đại, bà ấy đang nuôi nấng một đứa trẻ ngoan, một vận động viên tài năng, và xin đừng lo lắng về tương lai của cháu. Ta nói với bà ấy rằng cháu sẽ trở thành một người giỏi. Khi cháu tìm ra được thứ gì đó thú vị cũng như trượt ván, thì cháu sẽ tiến bộ.”

Cậu bé sửng sốt: “Ông nói với mẹ tất cả những điều đó sao? Làm sao mà ông biết được những thứ vớ vẩn đó sẽ xảy ra chứ? Ông thực sự nghĩ cháu là một vận động viên tài năng à?”
Ông lão cười: “Cháu có kĩ năng, biết tính toán thời gian, tính nhẫn nại và sức mạnh, ta cho rằng đó là tất cả những điểm nổi bật của một vận động viên. Cháu cũng không bỏ cuộc, cháu học được từ những khuyết điểm của mình, hoặc những mánh khóe không nên thực hiện, và cháu tìm ra được cách sửa chữa chúng thế nào, hay là làm được những cú kĩ xảo tuyệt vời.Những phẩm chất đó, là những điều xứng đáng với cháu khi cháu lớn hơn một chút. Cháu sẽ làm được một cách tốt nhất trong cuộc đời này.”

5 năm sau, mọi thứ ông lão tiên đoán đã thành sự thật. Đứa bé ngày ấy sau này đã mở được một cửa hàng ván trượt nhỏ, và thậm chí tổ chức những trận giao hữu cho những người thích trượt ván. Anh ta đã làm đủ tốt để mua được một căn nhà nhỏ tặng mẹ và các anh trai. Và anh vẫn thường dành thời gian ngồi với ông lão trên băng ghế đó…
***

Cô gái đó mới 22, mái tóc bông màu cam, và cơ thể đầy những hình xăm. Cô ta chỉ ngồi xuống băng ghế bởi vì cô thấy mệt. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, và thành thực mà nói, cô ta thậm chí còn chẳng biết có người đàn ông ngồi cạnh đó.

“Buổi sáng tốt lành, cô gái. Cô ổn chứ?”
“Gì kia? Tôi chẳng sao cả, mà thế thì liên quan quái gì đến nhà ông?”

“Ồ, khi mà tôi nhìn thấy một thiếu nữ xinh xắn thế này, nổi bật thế này, nhưng cô ấy lại òa khóc cứ như thể ai đó vừa mở vòi nước, ừm, tôi nghĩ cô ấy có thể muốn được giãi bày.”
“Vì sao chứ? Ông thì có thể nói được điều gì hay ho với tôi? Ông thậm chí còn không biết tôi!”

“Tôi có thể bắt đầu với sự thật đơn giản thế này, rằng cô là họa sĩ và cô độc thân. Tôi có thể bắt đầu với sự thấu hiểu rằng cô muốn chứng tỏ mình với thế giới, nhưng thế giới lại phũ phàng chứng tỏ nó với cô. Hoặc, tôi có thể đơn giản nói rằng một người xinh đẹp như cô, càng đẹp hơn ở bên trong, cô nên thể hiện nó ra bên ngoài nhiều hơn, chứ không phải che giấu nó đi.”

Cô gái nhìn chằm chằm vào ông lão, ánh mắt thoáng những tia xao động, dường như cô đang bị chìm trong từng lời ông lão nói, như thể một người cô độc lang thang trên sa mạc hoang vắng sau nhiều hành trình cuối cùng cũng tìm thấy được những giọt nước đầu tiên. Chưa có một ai gọi tên được vẻ đẹp của cô. Chưa có một ai nói với cô rằng cô xinh đẹp. Còn làm sao mà ông lão biết rằng cô làm nghệ thuật? Cô không bao giờ cho ai thấy được nghệ thuật của mình – chưa từng. Làm thế nào mà ông ta biết cô cảm thấy cô đơn? Làm thế nào mà ông ta biết cô muốn chứng minh rằng cô không cần bất cứ ai, trong khi mọi lúc cô ước có ai đó ở bên?

“Ông thực nghĩ tôi xinh đẹp?”, cô gái bẽn lẽn hỏi.
“Ôi trời, dĩ nhiên rồi, chỉ có cháu nghĩ là mình xấu thôi.”

“Cháu nghĩ vậy ư?”
“Đúng vậy. Đó là lý do tại sao cháu buồn.”

“Hừm, nếu ông giỏi như vậy, thì ông hãy nói xem cháu nghĩ gì?”
“Được thôi, cháu nhìn thấy cái đẹp xung quanh mình, đúng chứ? Nó hiện hình trong nghệ thuật của cháu, trong thơ của cháu.”

“Làm thế nào mà ông biết được cháu làm nghệ thuật và làm thơ?”
“Bởi vì những người thông minh, tốt bụng, đánh bại nỗi đau bằng cách nhìn thấy cái đẹp mà họ giấu đi khỏi thế giới.”

Cô gái bắt đầu nức nở. Ông lão đặt vào tay cô một chiếc khăn tay.
Cô gái ôm mặt thổn thức: “Cháu là một người vô dụng, một kẻ thất bại. Những bức vẽ của cháu đều tào lao, thơ cháu viết đều vô nghĩa, và cháu xa lánh những người cháu yêu thương.”

Ông lão không nói gì cả. Chỉ ngồi bên cô gái lặng lẽ khi cô khóc. Cô gái nói với ông lão mọi thứ. Sự căm ghét đối với cha mình. Sự khinh bi của cô với đồng tính, nhưng nhận ra rằng cô làm điều đó chỉ khiến mẹ mình tổn thương. Cô cho ông lão biết cô ghét đại học đến mức nào, và vì sao cô bỏ học. Cô kể cô làm việc ở Waffle House ra sao, và cô ghét nó. Cô nói với ông cô luôn muốn một chú mèo, nhưng cô lại sợ mình không đủ tốt với nó. Mèo là ước mơ cô chỉ dám nói, chứ không dám thực hiện.

Ông lão đợi cho đến khi cô gái bình tĩnh lại. Ông nói: “Cháu có gương trang điểm chứ?”
“Vâng, ở ngay đây, trong bóp của cháu.”

“Ta có thể mượn nó không?”
“Đây ạ, ông muốn làm gì với nó thế?”

“Ồ, ta không thể đoán ra được là nét mặt cháu lúc này giống một tay chơi nhạc rock hơn hay là gấu trúc hơn, hay là trông giống một con sói nữa.”
“Gì cơ ạ?”

Ông lão cầm chiếc gương lên. Cô gái nhìn thấy chính mình trong đó, tiếng cười phá ra mà chẳng cần sự nỗ lực nào. Đã lâu lắm rồi cô không biết cười là thế nào nữa. Một nụ cười chân thực. Cái loại cảm giác này đau tận vào trong, và bạn như muốn ngừng thở. Cô lúc này thực giống như đến từ một nhóm nhạc rock của những năm 80, hoặc có thể là một con gấu trúc có khát khao trở thành một ngôi sao rock. Cô lại bật cười. Ông lão cùng cười với cô.

“Đến đây vào ngay mai nhé, cô gái. Ta sẽ có cái này cho cháu.”
“Được ạ.”

Ngày hôm sau, cô gái đến và ông lão đã ngồi đó với một người phụ nữ khoảng 40. Họ nói chuyện với nhau đầy thân mật, và cô gái tóc cam với những hình xăm cảm thấy nhói lên vì ghen tị. Cô muốn ông lão chỉ nói chuyện với mình. Thêm nữa, họ trông thật thoải mái, tự nhiên khi ngồi cùng nhau trên chiếc ghế. Cô không muốn làm phiền họ. Những gì cô biết lúc này chỉ là có thể người phụ nữ kia là em gái của ông lão. Vì thế cô bước thật chậm trên con đường nhỏ tới băng ghế.

Ông lão nhìn thấy cô, ông cười tươi, vẫy tay gọi cô lại. Người phụ nữ ngoái lại nhìn. Cô gái tóc cam ngạc nhiên khi thấy gương mặt bà ấy thoáng một tia mừng rỡ. Bà ta cũng vẫy tay với cô.

“Ta rất vui khi cháu đã đến. Đây là Amanda Warrick. Bà ấy dạy vẽ tại trường Nghệ thuật. Ta đã bảo bà ấy mang đến một tập giấy vẽ phác thảo. Cháu có phiền không nếu cháu vẽ thứ gì đó cho chúng ta xem?”
“À vâng, cháu bất ngờ quá. Cháu không mang theo bút vẽ. Và cháu cũng không nghĩ ra nên vẽ cái gì nữa.”

Amanda mỉm cười, và rút ra từ túi một tập giấy vẽ, một hộp bút chì, và một giá vẽ cầm tay rồi nói: “Tại sao cô không thử vẽ hai bức tranh? Một cái là hồ nước nhỏ ở đằng kia, trên đường đi chắc cô đã nhìn thấy nó. Và cái con lại là cho những chú mèo con?”
“Dạ? Nhưng cháu không nuôi mèo.”

Ông lão thò tay vào chiếc túi giấy bên cạnh mình. Ông bế ra một chú mèo con Calico, đặt nó vào tay cô gái. Cô gái nhẹ nhàng nhận lấy cục bông nhỏ xíu chỉ lớn hơn lòng bàn tay cô, và ôm nó vào ngực. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, chú mèo khẽ động đậy rồi nhắm mắt. Ngắm nhìn cuộc sống nhỏ bé đang nằm ngủ trong tay mình, cô gái hỏi ông lão:
“Tên nó là gì vậy ạ?”
“Tùy cháu. Giờ nó là của cháu.”
“Cháu sẽ gọi nó là… Palate.”

Nhiều năm sau, mèo con giờ đã lớn hơn, mái tóc màu cam của cô gái giờ đã là một mái tóc đen dài với vài sợi tím điểm xuyết, Amanda giờ vừa là cộng sự, vừa là tri kỉ của cô. Ngày ấy, cô đã vẽ ông lão ngồi trên ghế, và bức tranh đó đã giúp cô nổi tiếng. Ông lão đã đến New York, nơi trưng bày một tuyệt tác.

Cô gái đứng bên cạnh ông khi ông quay sang cô trong đôi mắt mờ nước.
“Cảm ơn cháu.” Đó là tất cả những gì ông có thể nói, và đó cũng là tất cả những gì cô gái muốn nghe. Cô nắm lấy bàn tay già nua của ông khi ông quay lại nhìn bức tranh thêm nhiều lần nữa. Amanda đã chụp được tấm ảnh của thời khắc đó. Nó đã trở thành một bức ảnh nổi tiếng cùng với bức tranh kia.

Băng ghế dài vẫn còn đó. Nó vẫn chỉ là một chiếc ghế có dáng vẻ rất bình thường, với những tấm gỗ màu xanh. Ông lão không còn ở đó nữa. Thay vào đó là một bức tượng đồng ngồi trên chiếc ghế. Một tấm ván trượt đồng dựa vào nó. Một con mèo nhỏ nhắm mắt nằm trên đùi bức tượng. Tay bức tượng cầm một chiếc khăn tay đồng như muốn đưa cho ai đó ngồi bên cạnh mình, trên mặt ông, là một nụ cười cởi mở, hiền hậu, ấm áp. Một nửa chiếc bánh sandwich cá đang ăn dở, một chút hạt, và một con sóc. Tất cả đều bằng đồng, được đặt ngay cạnh ông lão trên băng ghế.

Trên bức tượng mang tên ông lão ấy là chữ ký của hơn nghìn con người đã từng ngồi đó và nói chuyện cùng ông. Biết bao người nữa vẫn đã đến. Ngồi đó. Và nói những điều gì… không ai có thể biết được.

(sưu tầm)