Về Tà Nung đi câu

Nằm ở thượng nguồn suối Cam Ly, xã Tà Nung cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 25 km, giáp huyện Lâm Hà (Lâm Đồng). Đèo Tà Nung uốn khúc trên Tỉnh lộ 725 được mệnh danh “con đường tơ lụa” do đi qua ngôi làng của người K’Ho bản địa chuyên nghề ươm tơ dệt lụa. Nơi đây còn là vùng nuôi cá thương phẩm, với những hồ câu độc đáo và những dòng thác hùng vĩ, làm phong phú thêm sản phẩm du lịch cho Đà Lạt, mở ra tiềm năng phát triển kinh tế.

Hái dâu là thú vui của nhiều du khách khi đến Đà Lạt

Hồ cá Dốc Trời và “con đường tơ lụa”

“Mừng ngày tái ngộ, hôm nay em sẽ đưa anh lên trời nhé!”, cô bạn đồng nghiệp ở báo tỉnh buông giọng cải lương tưng tửng. Ra vẻ thản nhiên vì chẳng lạ gì giọng điệu “chị em báo chí”, tôi bảo cứ cho anh ở dưới đất được rồi, Đà Lạt vừa tạnh mưa lạnh buốt mà trót diện áo cộc, lên trời sao nổi(!). Cô bạn cười khanh khách rằng làm gì anh phải “cảnh giác” thế, ai thèm lừa, cứ đi khắc biết.

Điểm đến là quán Hồ cá Dốc Trời, nằm gần làng hoa Vạn Thành, cạnh ngã 3 nơi đường Cam Ly gặp Tỉnh lộ 725, một ngả dẫn lên khu du lịch Hồ Suối Vàng, lối kia rẽ về xã Tà Nung. Quán như một khu liên hợp trong khuôn viên khá rộng và thoáng với các dịch vụ ăn uống, café sân vườn, hồ câu cá nằm giữa những mảnh vườn trồng dâu tây, chanh dây, atiso. Khách được miễn phí tham quan vườn, chỉ trả tiền khi muốn tự tay hái dâu tây ăn “tại trận”.

Dạo vườn chụp ảnh hồi lâu, chúng tôi ra hồ cá được xây kè vuông vắn, xung quanh rải sỏi làm lối đi. Khách có thể mang cần và mồi câu đến, hoặc dùng đồ của quán, mỗi cần 50.000 đ, ngồi bao lâu tùy ý. Cá câu được thì đặt lên cân, tính tiền tùy loại rồi khách mang về hoặc nhờ chủ quán chế biến luôn để lai rai bên hồ, thậm chí đốt lửa trại hò hát thâu đêm. “Dốc Trời” phục vụ cả các loại cá “không câu được tại chỗ” như cá ngừ đại dương, cá tầm… với giá hữu nghị hơn nhiều so với trong nội thành Đà Lạt.

Hồ cá Dốc Trời

Sau cơn mưa nhỏ lúc bình minh, trời cao nguyên mát lịm, xanh thẳm lồng lộng với những dải mây mỏng tang như tơ trắng, khiến cái thú buông câu thêm thi vị. Lại thêm lũ cá tham mồi, khách mải mê ngồi một mạch quá trưa. Cô bạn lại đùa: “Trên trời thời gian trôi nhanh quá, em phải về dưới trần viết nốt bài nộp cho Tổng biên tập. Anh mê cá tôm thì đi tiếp một mình nhé, Hồ Suối Vàng hoặc Tà Nung đều nhiều cá, nhưng anh nên về Tà Nung hay hơn, chứ đừng vội đến “suối vàng” bỏ em tội nghiệp(!)”.

Đèo Tà Nung nối liền thành phố Đà Lạt với huyện Lâm Hà, đường mới được nâng cấp, như dải lụa mềm trườn giữa một bên là những đỉnh núi san sát, một bên là sườn dốc phủ kín những rặng thông xanh cao vút. Đây cũng được gọi là “đường Dã Quỳ” bởi hàng năm từ cỡ tháng 10 trở đi, cùng thời điểm những cơn mưa cuối mùa tạm biệt cao nguyên, dã quỳ nở hoa vàng rực suốt dọc đường.

Câu cá xong còn được vào vườn hái dâu tây

Hết đèo cũng vào đất Tà Nung, đến ngôi làng ươm tơ dệt lụa lừng danh một thuở, đã khiến con đèo trên Tỉnh lộ 725 thêm danh “con đường tơ lụa”. Nghề tơ tằm gốc gác từ miền Bắc, theo chân những người di cư vào Tây Nguyên, đến đây được bà con K’Ho tiếp thu và phát triển, lưu truyền đã nhiều đời. Các cô gái K’Ho thường tập dệt vải từ nhỏ, đến lúc lập gia đình sẽ mang sản phẩm dệt của mình làm đồ sính lễ đi hỏi chồng (người K’Ho theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ đóng vai trò chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở).

Dù nhiều nhà trong làng đã chuyển nghề khác, đến nay vẫn còn một số gia đình nuôi tằm, ươm tơ, phần để tự dệt vải, nhưng chủ yếu là bán lại cho những xưởng dệt lớn. Điều thú vị là dù hiện nay người ta sử dụng phổ biến tơ sợi công nghiệp, nhưng nghề tơ tằm ở đây vẫn có đất sống vì sản phẩm độc đáo, chất lượng cao. Tơ tằm cao nguyên là chất liệu quan trọng cho các nghệ nhân làm tranh thêu tay XQ của Đà Lạt.

Dệt lụa truyền thống của người K’Ho

Khu vực này cũng đánh dấu điểm kết thúc địa giới thành phố Đà Lạt tại cầu Cam Ly Thượng, bắc qua khúc thượng nguồn con suối Cam Ly. Đầu cầu bên kia là xã Mê Linh của huyện Lâm Hà, nơi du khách thường đến tham quan trại nuôi dế Thiện An ở thôn 2, thưởng thức món dế chiên giòn nhắm với rượu gạo Kiết Tường – hai đặc sản địa phương đang được tích cực quảng bá.

Và đây chính là “vựa cá nước ngọt”, cung cấp thủy sản tươi sống cho thị trường Đà Lạt cũng như các huyện lân cận. Mặc dù, như đồng nghiệp báo tỉnh cho biết, việc nuôi cá cũng không dễ, do mùa khô phần lớn nước được sử dụng để tưới cà phê, nên phải dùng nước giếng khoan “bơm dần” vào ao nuôi để lũ cá tập thích nghi…

Buông câu ở thượng nguồn Cam Ly

Chòm râu dài hơn nửa gang tay dưới cằm khiến chẳng ai nghĩ anh Nguyễn Văn Hoạt mới 48 tuổi. Ông chủ hồ câu cá “Cảm Giác” bên cầu Cam Ly Thượng vừa tiếp khách vừa hí húi bên chiếc máy bơm, chỉ đạo con gái kéo vòi bổ sung nước cho ao cá. Anh chép miệng: “Mình trót thả cá hơi dày, mấy bữa nay thấy chúng nó nổi từng đám lên ngáp, không thêm nước thì nguy”.

Thật hữu duyên, anh Hoạt rời quê nhà ở huyện Mê Linh (Hà Nội) vào đây từ thuở thanh niên, cũng định cư tại xã Mê Linh (huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng). Anh kể, thời lập nghiệp, mấy xã Tà Nung, Mê Linh này chỉ là vùng lau sậy um tùm, phần lớn diện tích quanh năm sình lầy bởi nhiều khe suối chảy từ trên núi xuống thung lũng, nước đọng  không biết thoát đi đâu. Nhìn thấy ngay “tiềm năng”, anh Hoạt và một số đồng hương  đã dày công đào đắp, cải tạo những khu vực thích hợp ở Tà Nung để nuôi cá.

Một góc hồ câu Cảm Giác

Đất mới chẳng phụ công người, mỗi vụ thu hoạch đều đặn trên dưới 2 tấn cá nước ngọt, cùng thu nhập từ rẫy cà phê đã giúp vợ chồng anh Hoạt tích lũy xây được nhà, mua thêm đất, cho 2 cô con gái và cậu út quý tử ăn học đàng hoàng. Gần đây, anh đầu tư làm hồ câu dịch vụ nơi giáp ranh 2 xã, với sự trợ giúp đắc lực của Diệu Linh – cô con gái lớn vừa tròn 20 tuổi, tốt nghiệp phổ thông xong quyết định tập trung làm kinh tế với bố trước khi học tiếp.

Tôi tò mò hỏi gốc gác tên hồ “Cảm Giác”, Diệu Linh tủm tỉm: “Chú thử câu sẽ biết. Nhà con thả toàn cá lớn, con nhỏ nhất cũng 5 – 6 lạng, cá rô phi nhiều con 1 – 2 kg, còn mấy loại trắm chép trôi mè cỡ vài kg/con thì nhiều lắm”. Quả thật, tôi vừa thả mồi ít phút, phao đã bị kéo mất dạng, rồi một cú giật phũ phàng như muốn lôi chiếc cần trúc khỏi tay, mặt hồ cuộn sóng sủi bọt. Thu cần về chỉ thấy lưỡi không, tôi toát mồ hôi trán, phải định thần một lát cho hết run tay mới thay được mồi khác, và “xuống tấn” sẵn sàng. Rồi tôi cũng giật lên con trê đầu tiên nặng cỡ 2 kg, kéo cần cong vút, và sau đó liên tiếp được thêm mấy con nữa. Diệu Linh thật thà: “Nhà con làm hồ câu là muốn khách đến rồi sẽ quay lại, không như mấy nơi khác họ cho cá ăn no, chẳng mấy con chịu cắn mồi, cứ tính giờ mà thu tiền khách”.

Đúng là “Cảm Giác” thật đã! Ban đầu chỉ định ghé hỏi chuyện, thế rồi tôi “phải lòng” mấy con cá hồi nào không hay, cứ mê mẩn câu đến khi xách giỏ cá nặng trĩu mới chưng hửng, bởi chẳng thể mang cá về… Hà Nội. Chừng đoán được ý khách, anh Hoạt xởi lởi: “Chú không muốn mang cá về thì bán lại cho anh. Cá rô và trê 30.000 đ/kg, cá trắm cá chép 60.000 đ/kg”.

Lại thêm một ngạc nhiên thú vị. Tôi câu gần 3 tiếng, giá dịch vụ 50.000 đ/h, được mấy kg cá các loại, bán lại cho chủ hồ, tính ra… hòa vốn, chưa kể ông chủ “lỗ” thêm ấm trà mạn. Anh Hoạt cười hào sảng: “Cá thì anh lại mang ra chợ bán, coi như chú bắt cá dưới ao lên giúp anh, có đi đâu mất mà thiệt”. Anh tâm sự, sắp tới sẽ đầu tư làm thêm nhà nghỉ, dịch vụ ăn uống cạnh hồ câu… Không có gì lạ khi hồ câu “Cảm Giác” mở chưa lâu, nhưng đám cần thủ trong vùng thường xuyên tụ tập, nhiều người từ Đà Lạt cũng mò mẫm về tìm thú tiêu khiển buông câu nơi thượng nguồn suối Cam Ly.

Cá dính câu đều khá lớn

Tôi bắt chuyện với một tay câu người K’Ho bản địa Tà Nung tên là Bondưng Nim, vừa liên tiếp tóm được cá lớn. Anh cho biết nhiều hồ câu ở xã Tà Nung, xã Mê Linh cũng sẵn sàng mua lại cá nếu khách câu không muốn mang về. Rời “Cảm Giác”, Bondưng Nim dẫn tôi đến điểm du lịch Mái Lá cũng nằm bên thượng nguồn suối Cam Ly, nơi anh từng câu được con cá trắm gần 6 kg, còn rô phi, điêu hồng cỡ 2 kg thì “chuyến nào cũng dính”. Ông Phạm Ngọc Ngà, chủ quán, vui vẻ đón khách: “Cần câu và mồi câu ở đây cung cấp miễn phí, giá mỗi giờ câu là 50.000 đồng, anh em câu được bao nhiêu cá cứ việc mang về nhà, hoặc bán lại cá cho khu du lịch theo giá thị trường”.

Nước trong ao được dẫn từ suối Cam Ly về, nên ở Mái Lá không chỉ có các loại cá được thả, mà còn thêm nhiều cá trắm, tôm càng suối cũng theo dòng chảy về ao sinh sôi. Nhiều nhóm khách, tây có ta có, giật được cá to, đưa luôn vào bếp của nhà hàng, lát sau đã có nồi lẩu cá nghi ngút hấp dẫn với các loại rau Đà Lạt… tha hồ nhâm nhi trong lúc buông câu tiếp.

Nghề nuôi cá, làm hồ câu dịch vụ ở khu vực này đang ngày càng phát triển. Ngay cả hồ đập Cam Ly (dân trong vùng gọi là hồ Mê Linh) thuộc thôn 4, xã Tà Nung rộng hơn 40 mẫu (ở miền Bắc 1 mẫu = 3.600 , nhưng ở miền Trung – Tây Nguyên thì 1 mẫu = 4.970 m²) là cũng có người thầu để khai thác và nuôi các loại cá nước ngọt. Một số mô hình bước đầu khá thành công như tổ hợp khu nghỉ dưỡng – cà phê, thổ cẩm, câu cá của ông Ngô Năm. Từ Tp. Hồ Chí Minh lên đây xây khu nghỉ dưỡng gia đình, ông Năm mua 3ha đất trồng cây ăn trái và thuê 4ha mặt hồ Mê Linh thả cá, vừa bán cá cho thương lái vừa làm dịch vụ câu.

Theo anh Nguyễn Quang Duyên – Chủ tịch Hội Nông dân xã Tà Nung, dịch vụ câu cá phát triển gần đây đã tạo thêm sản phẩm du lịch hấp dẫn ở ngoại thành Đà Lạt, nhưng thế mạnh chính của địa phương vẫn là nuôi cá nước ngọt thương phẩm. Trong xã, nhất là khu vực thôn 4, có nhiều hộ nuôi cá lâu năm, thu nhập ổn định như gia đình anh Nguyễn Văn Minh có 4 sào ao, anh Phù Tường Lộc có gần 3 sào mặt nước, anh Phan Quang Trung có hơn 2 sào nuôi cá…

Hồ đập Cam Ly được thầu để nuôi cá và làm dịch vụ câu cá, thư giãn

Loài nuôi chủ lực ở Tà Nung là trắm cỏ, cùng với cá chép, mè, trê, rô phi… Các ao nuôi đều được xây bờ kè kiên cố, điều hòa lượng nước chảy ra vào. Dù nuôi kiểu “dân dã”, nhưng bà con rất chú ý cắt cỏ sạch cho cá ăn, bên cạnh tận dụng các thức ăn có sẵn trong vườn như rau, bắp, đậu, đồng thời thường xuyên làm vệ sinh ao nuôi.

Chính quyền xã Tà Nung đã xây dựng Tổ hợp tác nuôi cá với gần 20 hộ gia đình, coi đây là hướng đi quan trọng trong tiến trình phát triển nông thôn mới.

Thăm thác thần của người K’Ho

“Câu trong hồ rồi, có muốn ra thác câu không?”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi lập tức xách cần theo chân anh Bondưng Nim men đường nhỏ dốc xuống sườn núi. Vung cây chà gạc (dụng cụ đi rừng của người K’Ho, dùng khúc tre già uốn cong một đầu gắn lưỡi dao) phát mấy cành lòa xòa chắn lối, anh kể, người K’Ho Srê bon (bản) mình có gốc gác lâu đời nhất ở Tà Nung. Dân tộc K’Ho có nhiều nhóm địa phương như K’Ho Srê, K’Ho Chil, K’Ho Nộp, K’Ho Lạch, chiếm hơn 60% dân số xã.

Người K’Ho Srê gọi ngọn thác lớn nhất ở Tà Nung là Liang Mpông Yàng – có nghĩa là thác Cửa Thần. Dòng thác bạc trắng cao chừng 15m, ngày đêm cuồn cuộn xối xả. Có lẽ do Lâm Đồng quá nhiều điểm du lịch, nên ngọn thác khá đẹp này vẫn đang bị lãng quên, dù chỉ cách Đà Lạt chưa đầy 20 cây số, nhưng nhờ vậy vẫn giữ nguyên nét hoang sơ quyến rũ.

Cái tên Liang Mpông Yàng bắt nguồn từ truyền thuyết, ngày xưa bộ tộc Srê du canh du cư, đến Tà Nung mùa giáp hạt, cả bon bị đói. Già làng dẫn trai tráng vào rừng tìm cái ăn, leo mãi qua nhiều đỉnh núi vẫn chẳng săn được gì, cả đoàn nghỉ bên suối. Bỗng một vị thần hiện ra trên đỉnh thác, dắt già làng đến vách núi có hai bờ đá cao vút như cái cổng khổng lồ, tới một vùng nước nhiều cá. Tại đây già làng và trai tráng đã bắt được rất nhiều cá đem về cứu đói cho dân. Nghề cá của người Srê cũng bắt đầu từ đấy(!)

Thác Cửa Thần

Bây giờ, cá suối không nhiều như truyền thuyết nữa, nhưng người Srê vẫn thường vào đây thả câu, quăng chài. Bondưng Nim bảo, chủ yếu chỉ còn cá nhỏ thôi, thi thoảng dính cá lớn thì mừng lắm, vì cá suối luôn được các nhà hàng trả giá cao. Và dù cá suối hay cá nuôi ở đất Tà Nung này cũng rất có thương hiệu, luôn không đủ để bán. Mỗi hộ nuôi cá hay những tay câu như Bondưng Nim thường có ít nhất năm, bảy mối bạn hàng thường xuyên liên lạc, đặt hàng.

Bắt được cá lớn thường bán nên cũng chẳng được ăn, chỉ dịp Tết mới mang cá về làm cỗ mời bà con. Người Srê ăn Tết cả tuần liền sau khi thu hoạch mùa màng (thường vào tháng 12 dương lịch) để đón lúa về nhà. Luân phiên nhau, mỗi năm có 1 nhà hiến 1 con trâu cho bon tổ chức lễ đâm trâu, rồi chia thịt cho mọi người, bôi máu trâu vào trán để cầu phúc. Lễ hội tưng bừng, cả bon uống rượu cần, nhảy múa trong tiếng chiêng âm vang hòa tấu cùng kèn kơmbuat (ống bầu), đàn kơrla (ống tre), trống sơgơr… Sau lễ chính, các gia đình lại lần lượt làm cỗ mời cả bon đến nhà chung vui. Các món ăn chính là thịt rừng (giờ là thịt các loài nuôi trong rừng) và cá suối, thường được chế biến khô để thuận tiện, vì người Srê ăn bốc giống người Ấn Độ…

Có vẻ những tay câu nghiệp dư như tôi không có duyên với cá suối, không thấy con nào cắn mồi. Bondưng Nim thu cần, dẫn tôi đi vòng ra sau thác Cửa Thần một quãng, đến nơi có nhánh suối chảy xuyên rừng nguyên sinh dẫn nước về hoà vào dòng chính của thác Cửa Thần. Có đoạn suối vắt qua ghềnh đá tự nhiên tựa những bậc thang rất nên thơ, được người Srê gọi là Liang Pe Knũ – thác Ba Tầng.

Kết quả một buổi câu của Bondưng Nim

Ngược tiếp qua những ghềnh đá rêu phong bên dòng nước trong lành mát lạnh dưới tán rừng, chúng tôi đến thác nước cuối cùng của Tà Nung khi ráng chiều đã nhuộm. Ngọn thác này không hùng vĩ như 2 thác trước, do nước tuôn xuống từ ghềnh đá thấp, nhưng khúc này suối rộng nên dòng trôi êm ả. Thác có tên Liang Pe Kbít – nghĩa là thác Khát Vọng. Đáp lại câu đùa của tôi rằng khát vọng của người Tây Nguyên hiền hòa vậy sao(?!), Bondưng Nim chỉ đáp gọn: “Chờ chút sẽ thấy”.

Hồi lâu, theo tay anh chỉ, tôi thấy vài con cá nhỏ nhẹ nhàng búng mình khỏi dòng suối, đu đưa một giây giữa không trung dưới bóng rừng u tịch, trước khi rơi xuống để lại trên mặt nước vệt ánh bạc như sao sa. Người Srê tin rằng loài cá này có cánh, chúng chỉ sống nơi thác ghềnh để chiều chiều nhảy lên tập bay, với khát vọng đến ngày từ suối nhỏ sẽ vút lên trời cao. Họ cũng đặt tên cho loài cá ấy như tên dòng thác – Khát Vọng!

Nguyễn Việt

Cá tươi thành món nhắm ngay bên hồ