Vào bản người Xinh Mun giữa rừng hoa trạng nguyên

Gập ghềnh đường vào bản Vít

Có cậu sinh viên mù, được Cô Son Charity bảo trợ, mới gặp vài lần nhưng chú cháu quý nhau, nhắn tin tâm sự chuyện học hành, lại thêm một câu “văn hoa” song rất chân thành: “Chúc chú mãi bỏng cháy ngọn lửa thiện nguyện!”.

Lời chúc “tiếp sức” đúng lúc. Là bởi “lửa” chưa bao giờ tắt, nhưng “chân” nhiều lúc mỏi lắm. Lý do cũng tầm thường thôi, “cơm áo chẳng đùa với… nhà báo”. Thêm lý do nữa, chuyến này định lên Phiêng Pằn – xã biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La, nằm ở huyện Mai Sơn, đường vừa xa vừa hiểm trở, mà đội hình tình nguyện phần lớn là chị em, thêm mấy bác tóc bạc da mồi.

Thoạt nhìn đã thấy ngại, dù quà tặng bà con đã được Cô Son và đội bạn lo chu đáo, 115 suất đủ cả chăn, màn, áo ấm, khăn len, mũ len, tất, ủng, giày dép, gạo, mì, dầu ăn, đường, bột canh, xà phòng, bột giặt, khăn mặt, bánh kẹo… Nhưng rồi mới biết mình lo hão! Chính các bác “thất thập cổ lai hy” lại hăng hái khuân vác hơn cả thanh niên, còn chị em cũng chẳng ngại ngồi vạ vật trắng đêm trên xe khách, rồi lại quăng quật “thân liễu yếu” trên thùng xe tải mấy chục cây số đường núi vào bản.

Những căn nhà của người Xinh Mun chơ vơ trong sương trắng

Chỉ có loại xe Zil 131 của quân đội mới leo nổi qua những con dốc dựng đứng, cheo leo bờ vực, nhoe nhoét bùn đất và chi chít “ổ voi ổ trâu” xuyên giữa rừng hoang. Xã Phiêng Pằn có 6,4 km đường biên giới với Lào, gồm 19 bản, trong đó 13 bản của người Xinh Mun.

Tiếng bản địa, “Xinh” nghĩa là người, “Mun” nghĩa là núi, Xinh Mun là người ở núi. Chẳng trách tìm đồng bào khó thế, đường lên cứ hun hút nhọc nhằn, mênh mang sương trắng. Xe 3 cầu khỏe như voi mà lắm đoạn giữa dốc bánh còn quay tít tại chỗ, bốc khói khét mù.

Theo xe làm “hoa tiêu” có Trung úy Trần Đức Thiện, công tác ở Đồn Biên phòng Phiêng Pằn. Thiện sinh năm 1984, trong 16 năm quân ngũ thì đã có tới 12 năm gắn bó cùng mảnh đất biên viễn gian khó này. 2 đứa con trai sinh đôi mới 5 tuổi ở cùng mẹ dưới Ba Vì, mỗi năm chỉ được gặp bố đôi lần.

Một chú bé chăn trâu trên đồi hoa trạng nguyên

Trung úy Thiện kể: Sơn La là địa bàn cứ trú tập trung của bà con dân tộc Xinh Mun (21.288 người, chiếm 91,5% tổng số người Xinh Mun tại Việt Nam). Họ sống chủ yếu bằng trồng lúa và ngô trên nương. Chẳng biết dưới xuôi hô hào “cách mạng công nghiệp 4.0” hay 5.0 gì gì đó, chứ trên này bà con vẫn cầm gậy chọc lỗ tra hạt giống, dùng cuốc rẫy cỏ nương, nuôi gia súc gia cầm thả rông, vào rừng hái lượm và săn bắn…

Câu chuyện của Thiện bị ngắt quãng bởi tiếng reo của chị em trên thùng xe. Gì mà trầm trồ ghê vậy? Thì ra màn sương đặc sánh đã tan bớt, mới biết xe đi giữa những vạt đồi bạt ngàn hoa cải trắng đẹp ngơ ngẩn. Xa hơn một chút, lác đác những mái tranh xiêu vẹo ẩn sau hàng rào đỏ rực hoa trạng nguyên. Triền núi xung quanh cũng dập dờn trong gió bấc, tuyền một màu hoa đỏ như thế. Cảnh ngỡ trong mơ…

Cậu lái xe Zil 131, họ Cầm tên Tiên, người Thái, giải thích: “Cây trạng nguyên hợp với đất trên này, mọc tự nhiên nhiều như rừng. Ở đây nhà nào cũng trồng cây trạng nguyên làm hàng rào. Giống này chịu được rét, hạn hán cũng không sợ, tươi tốt quanh năm. Đọt lá non hái về nấu canh ăn được thay rau”.

Chỉ những tài xế như Cầm Tiên mới dám lái xe lên bản

“Ông Tiên” họ Cầm này nom hiền khô, mà vần vôlăng hăng hái lắm, đảo như rang lạc, xe cứ nhảy chồm chồm, làm lũ trẻ chăn trâu bên đường dạt hết vào đám hoa trạng nguyên mọc san sát như rừng. Không thế thì mất đà lên dốc ngay. Nhưng xe cũ mà phóng ác, cũng hãi. Chiếc Zil này đã hết đăng kiểm từ lâu, vốn chuyên để chở ngô thu mua trên nương của bà con, chỉ chạy “đường ngang” (vào bản, lên núi) chứ không dám ra “đường dọc” (quốc lộ).

Nếu không kể những chuyến xe gom nông sản thì chắc lâu lâu mới có ôtô của Biên phòng ra vào “cung đường khổ ải” này. Chỉ hơn 20 cây số mà trầy trật nửa buổi mới vào đến bản Vít – một trong những bản nghèo xơ xác của đồng bào Xinh Mun. Trong tổng số 115 gia đình ở bản Vít, hiện có tới 89 hộ nghèo, thiếu từ gạo ăn đến áo mặc; các hộ còn lại cũng chỉ gọi là hơi đỡ hơn một chút, tạm đủ ăn.

Người xăng xái tới đón đoàn đầu tiên là chị Nguyễn Thị Yến – giáo viên mầm non ở huyện bên. Trước khi chuyển công tác, cô giáo Yến từng nhiều năm dạy học ở Mai Sơn, gắn bó với đồng bào Xinh Mun. Có lẽ vì thế mà phần lớn các đoàn thiện nguyện tới huyện Mai Sơn đều do chị Yến kết nối.

Nhà nào ở bản Vít cũng có hoa trạng nguyên bên hàng rào

Chỉ tay vào đám trẻ con áo quần lôi thôi, chân đất trong sương giá, giọng cô giáo mầm non ngậm ngùi: “Bà con ở đây khổ lắm! Dưới xuôi chớm lạnh thì trên này đã rét run. Sống tách biệt sâu giữa núi rừng, lo ăn đã khó, nên việc học hành càng khó hơn gấp bội, rất ít cơ may để có thể thay đổi cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, nếu như không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Mỗi khi có đoàn thiện nguyện lên hỗ trợ, biết các cháu được thêm manh áo tấm chăn là mình mừng lắm, kiểu gì cũng sắp xếp đi cùng anh chị em”.

Trung tá Quàng Văn Xôm, người Thái – Chính trị viên Đồn Biên phòng Phiêng Pằn – cho biết thêm: “Ðồng bào dân tộc thiểu số Xinh Mun từ bao đời chỉ quen du canh du cư, sống như thuở hồng hoang… Gần đây, tuy đã được hỗ trợ lập bản định cư, nhưng vẫn là sống trên núi cao, thiếu đất sản xuất, trong khi ngoài làm nương ra thì bà con không biết nghề gì khác. Cộng thêm địa hình hiểm trở, giao thông đi lại rất khó khăn, nên tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới 70 – 80%. Mùa giáp hạt, nhiều gia đình phải sống cầm chừng nhờ gạo hỗ trợ của bộ đội Biên phòng.”

Hàng trăm chuyến lên vùng cao, có một “trải nghiệm không vui” cứ lặp đi lặp lại, đó là dường như càng ở những nơi sơn thủy hữu tình, cảnh đẹp như cổ tích, thì người dân càng nghèo khó(!?) Bản Vít cũng thế. Đúng như cô giáo Yến chia sẻ: “Đoàn nào lên đây cũng xuýt xoa ngắm cảnh và chụp ảnh liên hồi. Hoa đẹp, mà con gái Xinh Mun cũng đẹp lắm nhé. Cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam lần 3 (năm 2013) cô Á hậu Lò Thị Minh là người Xinh Mun đấy… Nhưng giữa rừng hoa trạng nguyên rực rỡ tưng bừng, vẫn toàn là những mái tranh ngả màu, nhà sàn xiêu vẹo.”

Chuyển quà về bản

Thắc mắc, có phải người Xinh Mun trọng hoa trạng nguyên không, sao nhà nào cũng trồng thế? Trung tá Quàng Văn Xôm cười hiền: “Không phải đâu. Nhắc đến Tây Bắc nói chung, người Xinh Mun nói riêng, hoa ban mới là “bản sắc”. Bà con Xinh Mun còn có Lễ hội Lộc hoa (Ksai Sa Típ) vào dịp sau Tết Nguyên đán hàng năm, khi hoa ban nở trắng núi rừng. Còn cây trạng nguyên ở đây mọc hoang rất nhiều, chỉ làm hàng rào thôi”.

Nghèo khó, nhưng người Xinh Mun hiếu khách lắm. Trao quà tặng bà con xong, lang thang vào bản, chúng tôi được anh Lò Văn Phương mời lên nhà chơi. Anh Phương 49 tuổi, hối cậu con út Lò Văn Tuấn đun nước mời khách, chất phác kể chuyện thân tình như đã quen lâu: “Mình có 2 đứa con thôi. Nghe lời cán bộ nên không đẻ nhiều đấy, chứ trước thì nhà nào cũng đông con, nghèo không nuôi nổi. Thằng Tuấn 19 tuổi, ngày xưa là cưới rồi, nhưng giờ mình bảo cứ thong thả, lo làm nương kiếm sống đã”.

Chuyện hôn nhân của người Xinh Mun cũng khá độc đáo. Đôi trẻ thương nhau, thưa chuyện với bố mẹ rồi, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái, làm lễ dạm, lễ hỏi, rồi đến lễ đi rể. Chú rể chuyển về nhà vợ, phải ở riêng, không được nằm cùng vợ, mà phải làm việc siêng năng để trả ơn bố mẹ nàng dâu đã cho mình có vợ, cứ như thế có khi vài năm liền. Tập tục này giờ đã đơn giản, nhưng nhiều “chú rể” vẫn ở nhà “cô dâu” đến khi có con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về.

Trao chút tấm lòng miền xuôi đến tận tay bà con

Hỏi chuyện lễ hội hoa, anh Phương kể, hội giản dị mà vui lắm. Gia chủ làm gà, nấu xôi gạo mới, bày trầu cau, rượu cần, cùng canh hoa ban và canh măng đắng, cúng thần linh, tổ tiên, cầu cho mùa màng tươi tốt, bản làng may mắn. Sau đó sẽ mời dân bản cùng uống rượu, múa xòe… Truyền thống là bản có bao nhiêu nhà thì sẽ có bấy nhiêu ngày hội, mỗi ngày làm ở một nhà. Xưa là vậy, nhưng giờ cũng phiên phiến thôi, hội dài quá thì còn làm ăn sao được…

Chuyện đang nồng, trà đang đậm, anh em trong đoàn đã gọi lên xe. Đường xấu, dốc cao vực thẳm, trời sương mù, phải xuống núi sớm, kẻo tối thì chỉ có nước ở lại bản. Lại ngất ngưởng xóc nảy người trên thùng xe tải, vẫn còn tiếc, ráng “xuống tấn” đứng vững để chụp thêm mấy kiểu ảnh rừng hoa đỏ.

Bỗng nghe “bục” một tiếng, chiếc Zil 131 nghiêng hẳn gần mép vực. Đá sắc chém thủng lốp trước bên lái, hú vía, chắc đi thiện nguyện được “trời thương” nên chưa lăn nhào xuống khe núi… Lại vẫn mấy bác già, cựu binh Trường Sơn, hướng dẫn “lũ nghiệp dư” giúp lái xe một tay kích, tháo tháo lắp lắp, thay cái lốp xe to đùng nặng như đá tảng.

Anh Lò Văn Phương và con trai Lò Văn Tuấn

Trầy trật hồi lâu chưa xong, quá bữa bụng sôi ùng ục, sốt ruột vì tứ bề rừng sâu núi thẳm. Cậu lái xe họ Cầm tếu táo động viên: “Các bác gắng đợi em, sắp xong rồi. Với lại ở đây nhiều cây trạng nguyên, không lo đói đâu, cùng lắm em hái lá nấu canh. Bà con toàn ăn thế.”

Biết là đùa vậy, mà nhìn lên màu hoa đỏ rực loang sương chiều, bất giác se lòng nghĩ đến bản Vít sau lưng…

Nguyễn Việt