Vạch đá tìm sâm

Giàng A Phương 17 tuổi. Giàng A Phao thì mới 14. A Phương học lớp 11, A Phao mới lên lớp 8. Với hai anh em họ nhà trống choai này, mỗi dịp cuối tuần, nhất là kỳ nghỉ hè không phải đến lớp, là cả một “thiên đường”.

Bản Chiềng Đi của người Mông cách thị trấn du lịch Mộc Châu chừng hơn chục cây số, thuộc đất huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đúng như cái tên Vân Hồ đầy hư ảo, khu vực này thường xuyên mịt mờ sương khói, lắm khi đi ngang lối rẽ vào bản mà chẳng nhìn thấy đường. Trưa hè có nắng cỡ nào, sáng dậy phải mặc áo khoác mà vẫn nổi da gà trong sương núi buốt tê.

Ở Mộc Châu hay ở Sa Pa, người Mông mang tiếng “thương mại hóa” đến mức nào không rõ, chứ bản Chiềng Đi thì vẫn hồn nhiên hào sảng nguyên chất núi rừng thênh thang, nhà nào cũng rộng cửa đón khách lỡ độ đường. Vừa gặp nhau bên dốc núi, chuyện trò một lúc, trời ngả chiều, A Phương đã mời bằng thứ tiếng Kinh ngọng nghịu: “Giờ đi Hà Nội thì đêm muộn đấy, anh qua nhà em nấu cơm ăn, mai hẵng về”.

Mận rụng đầy đất vì mưa đá

Bố A Phương và bố A Phao là họ hàng. Nhà 2 anh em cách nhau một quãng ngắn, mái tranh quyện mờ sương xám đục giữa bạt ngàn vườn đào, vườn mận, nương chè. Bình thường thì cũng no đủ đấy, nhưng lại gần mới thấy dưới gốc quả xanh rụng thành lớp thảm. A Phương bảo: “Mưa đá cả tuần, tan nát hết cả. Người buôn vào trả 1 ngàn đồng 1 cân, bố em bảo chẳng bõ công nhặt với bỏ quả dập, thôi kệ đấy làm phân xanh cho mùa sau”.

Vụ này cả bản thất thu, nhưng được cái vườn rộng giáp ngay bìa rừng, cũng chẳng bao giờ tốn tiền ra chợ mua rau, cứ nhặt nhạnh quanh núi cũng có cái bỏ vào nồi được. Rau tầm bóp mọc tự nhiên đầy giữa những luống chè, hái một lúc đã lưng gùi.

Giàng A Phao gàn anh họ: “Bữa nào cũng rau rừng, ngán rồi, không hái nữa. Mình sang mé núi bên kia đào khoai về nấu xương.”

Hái rau tầm bóp giữa nương chè

Tưởng ruộng khoai của nhà, hóa ra đi tìm “khoai rừng”. Leo lên sườn núi dốc, ngó quanh quẩn một lát, rồi A Phương chỉ vào mấy dây leo phủ đầy lông gai nhỏ, lá màu tía, thân bò trên mặt đất: “Dây khoai đấy, đào thôi.”

Loại củ này mọc như cây gậy cắm thẳng xuống đất, phải hì hục đào rất sâu mà cũng không lấy hết được, chỉ xắn vài khúc mang về. Củ nom tựa củ mài, to cỡ cổ tay, vỏ màu đỏ tím, ruột vừa trắng vừa đỏ. Đào cho đủ nấu nồi canh cũng mướt mồ hôi.

Giàng A Phương vừa gạt đất vừa thở dốc: “Đào khoai rừng mệt hơn đào sâm đấy. Mà sâm bán được tiền, chứ củ này chẳng ai biết ăn mà mua”. Khách tò mò hỏi: “Rừng này có sâm sao? Kiếm được không?”. Giàng A Phao nhanh nhảu tranh lời anh: “Được mà. Chú muốn mua sâm thì ở đây, mai anh em cháu dẫn vào rừng đào, thế nào cũng có, chỉ không biết nhiều hay ít, củ to hay nhỏ thôi.”

Dây “khoai rừng” có lá màu tía

Lỡ đường mà gặp sâm thì còn gì bằng. Về bản thôi, phụ 2 nhóc một tay gọt vỏ “khoai rừng”, rửa kỹ cho hết nhựa để ăn khỏi ngứa, thái lát luộc hồi lâu rồi mới cho xương vào hầm chung. Thêm nồi rau tầm bóp luộc, miếng thịt treo gác bếp và đĩa muối ớt, thế là lên mâm.

Chẳng rõ khoai ngon thật hay là đói ngấu vì ninh món “mầm đá” quá lâu, mà đánh bay nồi cơm, rồi mới ngó căn nhà vắng vẻ, hỏi người nhà đâu không thấy? Giáng A Phương thủng thẳng: “Mẹ lấy chồng khác, ở xa, lâu lâu mới về. Bố đi cúng ở bản bên kia núi, “mẹ trẻ” và em bé (vợ hai và con riêng của bố) cũng đi theo, mai gặp thôi”. Giọng cậu trai mới lớn thản nhiên. Chuyện hôn nhân của người Mông vẫn thế, thích là cưới, không thích nữa thì bỏ, có vẻ ít “vật vã thất tình” hơn người miền xuôi thì phải(?!)…

Đêm đổ mưa lớn, càng lạnh. Bản tối thui, nhà nào cũng ngủ sớm. Sáng ra sương càng dày, ngoài hiên bùn nước nhoe nhoét. A Phương dậy sớm đun ấm nước lá, rang cơm với muối ớt mời khách, rồi moi đôi ủng trong gầm giường: “Anh để giày ở nhà thôi, rừng lầy lắm, phải đi ủng mới lội được.”

Phải đào rất sâu vì củ khoai mọc thẳng đứng

Lầy thật. Núi lại dốc đến tức thở. Mồ hôi tuôn thành suối vẫn không sao theo kịp 2 cậu choai choai cứ thoăn thoắt chân sáo. Giàng A Phương biết ý, thỉnh thoảng dừng lại chờ. Giàng A Phao thì như con ngựa non được tháo cương, vừa phăm phăm mất hút sau đỉnh núi lại thấy hùng hục “phi” xuống thung lũng từ lúc nào.

Đất núi tơi như được bừa kỹ, sau đêm mưa càng dễ tuột từng mảng, diện ủng rồi mà chân vẫn quệt đá tai mèo lởm chởm đau điếng. Giàng A Phương giải thích: “Cây sâm thường mọc gần kẽ đá, nhiều khi củ luồn dưới tảng đá lớn, phải bẩy đá lên. Có lúc biết củ to mà không mang thuổng thì cũng chịu không lấy được.”

Sâm tìm được tại rừng vùng này chủ yếu là sâm đất, gọi theo đông y là đẳng sâm, còn dân gian thì bỗ bã gọi là sâm dây, hay “sâm của người nghèo”, có tác dụng bồi bổ nguyên khí, tăng cường sức khỏe. Thỉnh thoảng cũng có người tìm được sâm giống Mẫu Sơn, củ to và đẹp hơn, giá trị cũng cao hơn hẳn, nhưng rất hiếm.

Sườn núi rất dốc, lởm chởm đá

Trên mặt đất, cây đẳng sâm mọc thành dây leo, có thể quấn vào cây khác, lá hao hao như lá húng xoăn, thân màu tím sẫm, có lông thưa, có lúc nở hoa màu xanh nhạt. Củ dài nằm cách mặt đất khoảng vài chục cm, màu trắng ngả vàng, mùi thơm dịu, vị ngọt. Dân đi rừng đào được, chỉ rửa qua nước suối là nhai luôn được như củ đậu, giải khát và tỉnh táo khỏe người.

Mô tả trong sách có vẻ dễ “nhận diện” thế, nhưng giữa cơ man bụi rậm lẫn cây lớn và đá tai mèo, căng mắt nhìn mãi chưa ra cây gì. Cho đến khi Giàng A Phương chỉ tay vào cạnh kẽ đá: “Có một cây sâm, chắc củ nhỏ thôi, nhưng cứ đào nhé?”

Tiếng Mông gọi củ sâm là “ku-an-choong”. Củ đầu tiên tìm được chỉ nhỉnh hơn ngón tay, đã phải đào cỡ 30 cm, lật cả mấy hòn đá xung quanh mới lấy được. Gạt đất dính vỏ, lộ ra củ trắng nõn hấp dẫn thật khó “kiềm chế”, phải rửa qua rồi nếm thử luôn. Củ đẳng sâm non nhiều nước, ngọt lịm. Nhưng phải củ già hơn, có lõi màu vàng đường kính cỡ đầu đũa, thì mới nhiều tinh chất, dùng làm thuốc hoặc ngâm rượu bổ. Củ non chỉ “giải khát”, hoặc bán cho mấy quán ăn, họ thái lát nhồi vào bụng gà cùng mấy vị thuốc bắc thuốc nam gì đó, là có món “gà tần sâm” nghe oách ra phết.

Cây đẳng sâm mọc thành dây leo

Giàng A Phao lại chạy một lèo từ lưng núi lên, hóa ra cũng vừa đào được 2 củ “ku-an-choong” nhỏ, giơ ra khoe và giục: “Sườn núi này hôm trước tìm rồi, chắc sót ít củ thôi, mình phải leo cao nữa mới có nhiều”. Giàng A Phương đồng ý, khoác gùi đi theo, nhưng bước chậm, vẫn nghiêng ngó tìm kiếm dọc vách đá.

Đúng là phải “vạch đá tìm sâm”. Cái “điệp khúc” leo trèo, săm soi, gạt cây, bẩy đá, hì hục đào xới… cứ lặp đi lặp lại mà không nhàm chán, bởi “phần thưởng” là được thêm mấy củ khá to. Lần mò hết sườn núi này sang sườn núi khác, lắm lúc phải bò vì dốc quá đứng. Mải mê đến quên cả nghỉ trưa, dù cẳng mỏi nhừ, người xây xước vì đá cào, gai quệt.

Giàng A Phương bảo, ngày trước lên núi đào “ku-an-choong”, chỉ cần một ngày có khi gần đầy gùi. Nhưng giờ nhiều người tìm quá, để mang qua Mộc Châu bán cho khách du lịch, nên phải vất vả vào rừng xa, leo núi cao hơn, mới kiếm được ít củ. Ngày nào không phải đi học, mấy đứa lại kéo nhau vào rừng đào sâm, tìm phong lan, hái nấm, bẻ măng…

Củ sâm thường nằm dưới đá

Có “thu nhập đều đặn” từ rừng, nên A Phương và A Phao đều tự mua được điện thoại di động, “cúng phây” lướt web ầm ầm. A Phao cười toe toét, rủ rê: “Tuần sau chú muốn liên hoan thì lên đây góp với hội cháu. Mỗi người 100.000 đồng thôi, hơn chục đứa chung lại là mua được 1 con lợn bản rồi, mang ra suối nướng, ngon lắm! Thỉnh thoảng kiếm được nhiều sâm, nhiều phong lan, lại liên hoan thế đấy”.

Mặt trời xuống lưng núi, A Phương nghe điện thoại rồi bảo quay xuống bản thôi, bố và “mẹ trẻ” đưa em về nhà rồi. “Mẹ trẻ” cũng kiếm được sâm đấy.
May thế, chứ mớ “chiến lợi phẩm” từ hơn nửa ngày hì hục leo rừng vạch đá, cũng chỉ được hơn vốc tay, ngoài vài củ sâm to bằng ngón chân cái thì chủ yếu là củ nhỏ…

Về nhà mới biết, Giàng A Cao – bố của Giàng A Phương, còn kém mình đến 8 tuổi. Bố gọi khách bằng anh xưng em, con cũng xưng em gọi anh với khách. A Phương cười thật thà: “Lỡ gọi quen rồi, đổi lại được tí lại quên, mình cứ anh em cho trẻ nhỉ”.

Vạch đá tìm sâm

Giàng A Cao 36 tuổi, đã lên ông từ năm ngoái. Con gái là Giàng Thị Gánh – chị ruột của A Phương – lấy chồng sớm, giờ A Cao có cháu ngoại hơn 1 tuổi. Con của A Cao với vợ hai cũng hơn 1 tuổi.

Một tay bế con một tay bế cháu, bị khách hỏi trêu giờ thích làm bố hay làm ông, A Cao cười giòn: “Em lấy vợ từ 16, đến 17 tuổi có con gái đầu lòng. Ông nội còn lấy vợ từ 12 tuổi, hết thích lại bỏ, ông lấy 3 vợ kia, bản Mông nhiều người cũng vậy mà.”

Vui chuyện, A Cao kể, vừa đi cúng bên nhà bác – ở đây người Mông ốm thì vừa uống thuốc tây vừa cúng, “kết hợp truyền thống và văn minh”. Giờ bà con hiểu biết rồi, không uống thuốc không hết bệnh được, nhưng cúng giúp giải tỏa tâm lý, thấy người nhẹ nhõm, mau khỏi ốm hơn.

Giàng A Cao cùng vợ hai và con nhỏ

Nhìn trời nhá nhem, A Cao chép miệng: “Không biết nhà có khách, chẳng kịp chuẩn bị món gì”. Giàng A Phương ngắt lời bố: “Giờ ra suối soi cua vẫn kịp mà.”

Đúng là tụi trẻ dư năng lượng, cả ngày trên núi rồi vẫn chưa chán chạy nhảy. Vẫn lại A Phao chạy trước, soi đèn pin loang loáng bên bờ ruộng bậc thang mấp mô. Sương bủa dày đặc, rơi lộp bộp như mưa. Chỉ cách bản một quãng đã chẳng nhìn thấy gì, không biết hướng nào ở đâu nữa.

Con suối nhỏ chỉ xoạc rộng chân là bước sang bờ, rì rào khe khẽ qua vô số đá tảng. Ấy thế mà lắm “đồ ăn” ra trò. Loáng cái, mấy chú cua đá béo mập đã bị A Phương tóm gọn. A Phao còn “thân thủ phi phàm” hơn, tay không mà chụp được cả 2 con ếch núi khá to.

Sương dày đặc bên con suối nhỏ

Sùng sục lội suối, lia đèn, bỗng giật thót khi một con rắn loằng ngoằng phi từ bụi rậm ven bờ xuống nước, trốn ánh đèn. Hai cậu trai họ Giàng nhảy tới, chỉ vài giây sau rắn đã nằm gọn trong xô. “Rắn nước mà, ăn ngon đấy” – A Phương bảo thế…

Rất nhanh, cả cua lẫn ếch và rắn đã kêu xèo xèo trong chảo. Ngọn lửa vừa sưởi ấm vừa soi sáng căn bếp tối thui. Bản đã có đường dây điện kéo về, nhưng hay mất lắm, mà có điện cũng chẳng dám dùng nhiều, tốn kém.

Nâng chén mời khách, Giàng A Cao gãi đầu: “Anh thông cảm nhé, có gì ăn nấy vậy. Bản mình trồng đào mận không ăn thua, lại thiên tai hỏng hết, chè cũng thế. Muốn học theo bên Mộc Châu làm du lịch cộng đồng, nhưng không có vốn và chưa biết cách, nên vẫn nghèo. Nhưng nếu anh không chê thì ở chơi bao lâu cũng được. Em đã bảo thằng Phương rửa sạch mớ củ sâm cho anh rồi”.

Nguyễn Việt

Giàng A Phao khoe 2 củ sâm nhỏ mới đào

Giàng A Phương miệt mài tìm sâm trong kẽ đá

“Chiến lợi phẩm” của một ngày leo núi

Nhiều người dân bản Chiềng Đi có thêm thu nhập từ khai thác lan rừng

“Khoai rừng” sau khi gọt vỏ

“Đại tiệc”: khoai nấu xương, thịt gác bếp, rau tầm bóp luộc

Con rắn nước trước khi bị tóm

Mò mẫm suối đêm tìm cua bắt ếch

Do nhiều người săn tìm, rừng chỉ còn sâm nhỏ