Trong rừng mây Mà Cooih

Mới giữa chiều mà bầu trời nặng trĩu như đã nhá nhem. Mưa lâm thâm miệt mài phủ bức màn xám bạc, trùm kín tán rừng ken dày trên dãy núi đồi san sát. Xã Mà Cooih khuất lấp lưng chừng núi, cách thị trấn Prao – huyện lỵ Đông Giang – chừng 20 cây số, là khu vực lạnh nhất tỉnh Quảng Nam, ngày cuối đông tứ bề mịt mờ khói sương bụi nước.

Mưa lạnh thế mà được ngồi bên bếp củi đượm than hồng, nướng thịt khô thơm lựng, chấm muối ớt rừng A Riêu, nhâm nhi chút rượu Tà Vạt đặc sản của người Cơ Tu, tưởng chẳng còn gì bằng… Nhưng anh Hối Tin chỉ nhiệt tình mời khách, chứ không đụng đũa. Bàn tay chai sạn chit chít vết trầy xước của người đàn ông Cơ Tu lơ đễnh xoay chén rượu. Đôi mắt nâu thật hiền cứ hướng ra màn mưa đang che mờ lối nhỏ giữa bản A Đền, nước chảy thành dòng dưới chân những căn nhà sàn cải tiến.

Hối Tin bảo, mình nhớ ngày xưa đấy. Bản cũ của Hối Tin giờ đã nằm sâu dưới nước lòng hồ thủy điện A Vương. Hồi trước ở đó rừng bạt ngàn. Người Cơ Tu bao đời chỉ biết phát cây làm rẫy, cầm gậy chọc lỗ tra hạt. Mỗi năm chỉ làm được 1 mùa, nên lúa ngô chẳng đủ ăn, phải vào rừng săn bắn, hái lượm lâm sản, nhiều nhất là lấy mây.

Thân mây rừng đầy gai nhọn

Cây mây rừng gắn bó với người Cơ Tu từ thuở lập bản. Nhà nào cũng dùng nhiều đồ đan bằng mây. Con trai Cơ Tu muốn buộc mái lợp nhà, hoặc đan cái tà-léc (gùi của đàn ông, có 3 ngăn); con gái Cơ Tu muốn đan cái h’đool (gùi đựng lúa), pr’eng (gùi đựng rau, củ, quả), p’rôm (dùng đựng trang sức, thổ cẩm), adong kiêr (gùi sắn), adong mặt (gùi củi), achuy (gùi thịt, cá), t’mòi (gùi của phụ nữ, chuyên đựng quà)… cứ việc vác rựa vào rừng, chặt bó mây mang về.

Mây rừng thời đó nhiều lắm, chỉ vài bước quanh bản là kiếm được mây. Một cái gùi bằng sợi mây rừng đan đúng cách truyền thống của người Cơ Tu có thể sử dụng 30 năm, hàng ngày đi nương đi rừng về lại treo gùi trên giàn bếp, chẳng bao giờ lo mối mọt hay ẩm mốc…

Khi thi công thủy điện A Vương, nhiều thôn bản của người Cơ Tu được di dời về 2 khu tái định cư Pache Palanh và Cut Chrun thuộc xã Mà Cooih, với tổng cộng 333 hộ dân, 1.345 nhân khẩu. Nơi ở mới có sẵn những dãy nhà sàn xây giống nhau và hệ thống đường bê tông nông thôn đến từng cụm dân cư. Người dân ở các khu tái định cư được cấp đất canh tác, hỗ trợ cây giống, cùng các phương tiện sản xuất, phân bón…

Tuy nhiên, khi xây dựng khu tái định cư, người ta đã không tính đến số hộ phát sinh. Sau 10 năm, đã có thêm 126 gia đình Cơ Tu trẻ, “bổ sung” cho khu Pache Palanh và khu Cut Chrun hơn 400 nhân khẩu, “đã ra riêng nhưng vẫn phải ở chung”. Những ngôi nhà tái định cư vẻn vẹn 40m², trước đây phù hợp với 1 gia đình, giờ có khi 3-4 hộ phải chung sống, sinh hoạt vô cùng khó khăn.

Mỗi hộ dân tái định cư trước đây được cấp 1-2 sào đất để canh tác. Tiêu chuẩn là vậy, nhưng ở huyện Đông Giang rừng núi nhiều chứ đất bằng hiếm hoi lắm, ruộng phần nhiều là đất xấu, xen lẫn nhiều đá, mà cũng chẳng đủ để cấp. Nghĩa là những hộ mới “xuất hiện” vài năm gần đây không có đất sản xuất, không công ăn việc làm.

Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới gần 48% người Cơ Tu ở xã Mà Cooih. Nhiều gia đình Cơ Tu đối mặt với nguy cơ thiếu đói thường trực vào những kỳ giáp hạt, nhất là khi phần gạo Công ty CP Thủy điện A Vương hỗ trợ cho mỗi nhân khẩu bình quân 10kg mỗi tháng trước đây, đã bị cắt từ vài năm nay.

Anh Hối Tin (ngồi bên phải) giới thiệu các vật dụng đan bằng mây của người Cơ Tu

Anh Hối Tin cười xòa: “Đói thì phải vào rừng kiếm ăn thôi. Nhà nào cũng đi chặt mây. Cây mây thường mọc dưới tán rừng sâu, ẩm ướt, muốn bứt được mây phải dùng rựa phát quang bụi rậm, cực lắm. Gốc mây đầy gai nhọn, bứt được một cây mây thì người nào không toạc máu cũng phải trầy da. Nhưng mây bán được giá nên ai cũng ham. Hồi trước mây rừng nhiều, mình từng bứt được những sợi mây dài 15 mét, một sợi mà nặng tới 12 kg. Thương lái thu mua 3.000 đồng/kg mây, một ngày mình đi bứt mây kiếm được khoảng 150.000 đồng – thời điểm đó vậy là “sống khỏe.”

Chẳng mấy nỗi, những khu rừng quanh bản đã vắng bóng mây rừng, do bị khai thác bừa bãi, nơi nào có mây đều bị chặt phá tan hoang. Người Cơ Tu phải đi xa hơn để kiếm mây, nhưng cái chính là nếu nguồn lợi tự nhiên đó cạn kiệt, họ chưa biết kiếm sống thế nào…

Cũng chính lúc đó, sau khi triển khai Dự án cây mây bền vững tại Lào và Cam-pu-chia, các chuyên gia của WWF đã về khảo sát rừng tự nhiên ở Quảng Nam, phát hiện nguồn nguyên liệu mây rất phong phú. Trong nỗ lực hướng tới việc khai thác bền vững, giúp cải thiện môi trường, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân địa phương, WWF đã triển khai Dự án Mây Tre Keo bền vững.

Tại huyện Đông Giang, HTX Mà Cooih được thành lập và hỗ trợ để tiên phong thực hiện quản lý rừng, bảo vệ môi trường gắn với sinh kế bền vững; hoạt động chủ yếu là khai thác, thu mua và chế biến mây. Chiến dịch tuyên truyền, các lớp tập huấn được tổ chức để thay đổi nhận thức cho bà con.

Anh Hối Tin kể: “Rừng được giao khoán cho các nhóm hộ quản lý, bảo vệ, mỗi hộ nhờ vậy có thêm thu nhập từ 4,5 – 5 triệu đồng/năm. Cây mây cũng được khoanh vùng để quản lý. Khi mây đủ tiêu chuẩn khai thác, người nhận khoán được hưởng lợi 100%. HTX thu mua hết mây rừng do bà con khai thác, với điều kiện sợi mây phải dài trên 5 mét.”

Anh Hối Tin trong vườn mây bên sườn đồi sau nhà

Người Cơ Tu ở Mà Cooih có thêm nguồn thu nhập ổn định, nên đã nỗ lực “chăm sóc rừng”, chỉ khai thác những cây đủ tuổi, nhằm duy trì nguồn lợi lâu dài. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương còn hỗ trợ bằng cách mua cây mây giống của HTX Mà Cooih, cấp cho các hộ để trồng, nhằm bảo đảm nguồn lợi về lâu dài.

Anh Hối Tin tâm sự: “Vợ chồng mình cũng như nhiều các nhà khác trong bản đều vừa khai thác mây rừng vừa trồng mây, trồng keo, bên cạnh việc trồng lúa nương. Làm lúa thì chỉ đủ gạo ăn đã khó. Trồng cây keo phải 5 năm mới thu hoạch được 1 lần, mà giá keo chỉ 900 – 1.000 đồng/kg. Trong khi đó, mây bây giờ bán được từ 4.300 – 4.800 đồng/kg. Mình trồng mây cả trong rừng và quanh nhà, mây trồng sau 5 năm là thu hoạch thường xuyên hàng năm, không phải thay cây mới như keo. Thu nhập từ mây của nhà mình hiện được 3 – 5 triệu đồng/tháng, bằng một nửa tổng thu nhập rồi. Vậy mới mong lo đủ ăn cho 3 đứa con chứ”.

Biết Hối Tin lúc 19 tuổi đã cưới một cô gái Cơ Tu mới bước sang tuổi 17, khách nửa đùa nửa thật hỏi anh có phải vì “vỡ kế hoạch”, phải lấy vợ sớm không? Hối Tin lắc đầu cười. Lập gia đình sớm là “cái nếp” của người Cơ Tu, nhưng tục lệ thì nghiêm lắm, dù thoạt nghe có vẻ rất “thoáng”.

Từ ngàn xưa, các chàng trai, cô gái Cơ Tu đã được quyền tự tìm đến với nhau từ khi còn rất trẻ, cha mẹ không can thiệp. Thường vào mùa thu, khi lúa nương đã gặt, cất vào kho xong xuôi, chàng trai Cơ Tu sẽ chặt cây làm lều ở bên rẫy hoặc ở bìa rừng, rủ người yêu đến ngủ duông vài đêm (tiếng Cơtu gọi là lướt zướng). Đôi trái gái sẽ tâm sự, chia sẻ những dự định tương lai, rồi ngủ bên nhau, hoàn toàn trong sáng.

Luật tục Cơ Tu rất nghiêm khắc đối với những trường hợp quan hệ bừa bãi hoặc có thai trước khi cưới. Người con trai nào “trót lỡ quá đà”, phải mổ heo, mổ bò, mang thịt đến từng nhà trong bản để “nhận tội”; có khi phải đền bù cho nhà gái nhiều ché, chiêng, đồ trang sức quý… hoặc phải chịu nợ truyền kiếp từ đời này sang đời khác, thậm chí bị cộng đồng ruồng bỏ. Vậy nên rất hiếm trường hợp dám “ăn kem trước cổng”(!)

Một phong tục độc đáo trong lễ cưới của người Cơ Tu

Nói chuyện bên lề, để thấy rằng việc thay đổi thói quen của đồng bào nơi đây không phải một sớm một chiều mà xong. Theo anh Trần Quốc Trí – Giám đốc HTX Mà Cooih – tương tự việc tuyên truyền chống nạn tảo hôn phải nhiều năm kiên trì mới có kết quả, cũng phải mất 2 năm mới “đả thông tư tưởng” cho bà con về khai thác bền vững, để người Cơ Tu biết bảo vệ và giúp rừng tái sinh.

Anh Trí sinh năm 1977, từng phục vụ trong Binh chủng Hóa học. Anh lính “miền xuôi” gốc gác Quảng Ngãi phải lòng một thiếu nữ Cơ Tu xinh đẹp tên là Bh’riu Thị Thái Đin, nên đã ở lại xã Mà Cooih định cư lập nghiệp. Làm rể Cơ Tu, anh cũng phải tốn khá nhiều công sức, tâm huyết để thuyết phục “người bên nhà vợ” chuyển dần từ đốt rừng làm rẫy sang trồng mây nuôi rừng.

Được cán bộ của WWF tư vấn kỹ thuật khai thác mây bền vững, bảo vệ rừng, HTX Mà Cooih đã góp phần quan trọng vào nỗ lực chung nhằm chấm dứt cơ bản nạn khai thác mây rừng bừa bãi trong khu vực. Bước đầu, 310 ha rừng đã được giao khoán cho bà con trông nom, khai thác theo hướng dẫn. Đây là “thời kỳ quá độ” cần thiết, trong lúc chờ những cây mây trồng phải sau 5 – 6 năm mới thu hoạch được.

Thành lập từ tháng 12/2015 với 33 thành viên, phần lớn là người dân tộc Cơ Tu, với vốn điều lệ 5 triệu đồng/người, hiện một trong những hoạt động chính của HTX Mà Cooih là cung cấp cây mây giống cho các hộ trồng rừng. Anh Trí cho biết: Làm mây giống khá công phu, hạt mây sẽ được đập phần vỏ cứng bên ngoài và ươm vào đất. Từ khi ươm hạt đến lúc thành cây giống bán được phải trải qua nhiều công đoạn, tổng cộng mất khoảng 18 tháng.

Chăm sóc mây giống trong vườn ươm của HTX Mà Cooih

Lúc đầu bà con chưa mặn mà với cây mây, một phần do khi ấy mây rừng vẫn còn sẵn, thêm vào đó mây trồng dễ hỏng trong năm đầu tiên, do bị mối ăn và nhiễm bệnh vàng lá. Phải đến khi cây mây vươn tán lên ngang ngực, việc chăm sóc mới đỡ vất vả, và lúc đó bà con mới thấy rõ hiệu quả. Số hộ tham gia trồng mây ngày càng nhiều. Trên diện tích 2.000 m2 đất do xã viên đóng góp, HTX đã đầu tư xây dựng vườn ươm quy mô 200.000 cây mây giống.

Để bà con yên tâm canh tác, HTX Mà Cooih đã liên kết với công ty Lục Đông ở Đại Lộc, bao tiêu sản phẩm. Nhưng theo anh Trí, đó mới chỉ là bước đầu. Mơ ước của anh, cũng như của những người tâm huyết với cây mây ở Mà Cooih, là phát triển rừng mây gắn với khôi phục nghề đan mây thủ công truyền thống Cơ Tu.

Thực tế, gần đây chính quyền địa phương và ngành chức năng cũng đã chú trọng hơn để khôi phục một số nghề truyền thống như dệt thổ cẩm tại các xã Tà Lu, A Ting, đan mây tre tại xã Sông Koon, làm rượu cần tại thôn A Dinh, thị trấn Prao. Các loại trống, cồng, chiêng, khèn, những dụng cụ trang trí, trang sức, trang phục được sưu tập và lưu giữ kỹ càng. Các món ăn uống của vùng núi như cơm lam, bánh sừng trâu, rượu tà đin, tà vạt được khuyến khích và sử dụng phổ biến trong lễ hội, đãi khách…

Trong xu hướng đó, sản phẩm mây đan của người Cơ Tu sẽ nhiều hy vọng tìm được chỗ đứng. Thực tế với bà con nơi đây, đó không chỉ là những vật dụng phục vụ sinh hoạt hàng ngày, mà còn là nét văn hóa đặc thù, được chế tác tinh xảo. Ví dụ như cái khách tà mòi – một loại gùi nhỏ, được đan rất công phu, trang trí những hoa văn mang hình tượng truyền thống của người Cơ Tu. Đây hoàn toàn có thể là món hàng lưu niệm độc đáo, một khi khai thác được thế mạnh du lịch của huyện Đông Giang, với những địa danh hấp dẫn như Hang Gợp (Cổng Trời – nằm ngay trong khu Pache Palanh – xã Mà Cooih), động Prazoong, hang Dơi, lòng hồ thủy điện A Vương, rừng phòng hộ A Vương, sông Bhơm Lom…

Anh Trần Quốc Trí (đứng bên trái) giới thiệu lứa mây giống chuẩn bị xuất bán

Giọng anh Trí đầy tin tưởng: “Mà Cooih có mây tốt, lại có nghề đan truyền thống, không lý gì cứ phải bán “hàng thô” mãi, phải có thêm sản phẩm thủ công phục vụ khách du lịch và xuất khẩu thì mới mong thoát nghèo được. Như trong bản A Đền lúc nãy anh ghé, có cậu Atai Đum là con trai một nghệ nhân Cơ Tu có tiếng, học được nghề cha nên cũng đan mây đẹp lắm. Huyện đã có kế hoạch năm tới dự kiến tổ chức đào tạo, khôi phục nghề đan mây truyền thống của người Cơ Tu. Nhất định mình sẽ động viên anh em xã viên HTX theo học”.

Dự định nhiều, nhưng trước mắt khó khăn còn chồng chất, phải lấy ngắn nuôi dài. Trong khi trồng mây chờ ngày bứt sợi, HTX Mà Cooi đang xoay sở để thêm thu nhập cho xã viên bằng sản phẩm ớt thóc A Riêu. Chẳng biết có phải bởi Mà Cooih mưa lạnh triền miên không, mà trời đất phú cho trái ớt nơi đây hương vị thật lạ, quả nhỏ xíu như hạt thóc mà cay đậm đà, thơm nồng mà không hắc, chỉ ướp thêm chút muối mà dùng kèm món gì cũng tròn vị. HTX đã đăng ký thương hiệu Ớt A Riêu, với thị trường kết nối ra đến Tam Kỳ, Đà Nẵng và Huế.

Anh Trí cười: “Làm ớt có tiền ngay, cũng như khai thác mây rừng tự nhiên vậy. Nhưng trồng mây mới là nhiệm vụ chính. Chỉ có duy trì được nguồn mây rừng, mới mong giải được bài toán công ăn việc làm cho bà con, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Về lâu dài, việc trồng mây không những sẽ giúp tăng thu nhập một cách bền vững, mà còn bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, hạn chế sạt lở do thiếu rừng giữ đất.”

Quả thật, ông Giám đốc HTX Mà Cooih không chỉ “hô khẩu hiệu”. Sáng hôm sau, dù trời mưa tầm tã, nhưng theo đúng hẹn với bà con, anh Trí vẫn đội mưa đốc thúc vận chuyển mây giống đến giao tận nhà cho từng hộ dân. Lần này, mỗi hộ được nhận 1.500 cây mây giống.

Giao mây giống đến tận nhà từng hộ trồng mây

Theo chân anh Trí đến bản A Zal, chúng tôi gặp vợ chồng ông Avô Tô Nhưa. Hỏi chuyện cây mây, ông Nhưa vui vẻ đáp: “Lần trước mình nhận mây giống rồi, lần này trông cháu cho con trai, con dâu ra nhận về trồng thôi. Từ hồi nghe tin khoanh nuôi tái sinh cây mây rừng, người Cơ Tu vui lắm. Không làm thế thì hết mây, hết rừng rồi làm sao sống!”

Ông Nhưa bảo, cây mây rừng quý lắm. Ngoài sợi mây dùng để đan các vật dụng, phần đọt non đầu ngọn mây là món ăn ngon, quả mây rừng cũng là một loại thảo dược có tác dụng giúp cơ thể thanh nhiệt, thải độc. Người bị đau dạ dày, chỉ cần hái quả mây rừng, rửa sạch, phơi khô, sắc với nước uống hàng ngày, một thời gian sẽ thấy bệnh đỡ dần và hết đau.

Gặp thương lái dưới xuôi lên thu mua lâm sản, mây rừng bán rất được giá, nên dân bản đua nhau khai thác tràn lan. Kẻ mua người bán cùng hám lợi, có thời xe tải chở mây chạy tối ngày. Nhiều người bỏ cả làm rẫy, quanh năm chỉ biết đi rừng bứt mây về bán. Nhưng đến lúc giá mây rừng “cao ngất ngưởng”, thì loài cây này bắt đầu cạn kiệt, những cánh rừng cứ lụi dần.

Một gia đình Cơ Tu trong bản A Zal

Người ta chặt cả mây nhỏ. Loại này vừa chẳng đáng bao nhiêu tiền, vừa mất công tước vỏ. Đặc tính của cây mây là khi sợi già thì gai sẽ rụng dần và cây tự róc vỏ. Một sợi mây nếu dài trên 20 mét, thường đã tự róc vỏ đến 7 – 8 mét, và hầu như không còn gai. Mây non thì ngược lại, gai cứng chi chít, dễ gây thương tích.

Ông Nhưa chia sẻ: “Bà con mình cũng biết chặt mãi thì rừng sẽ hết mây, phải trồng thêm thì mới có mà chặt. Nhưng trồng cây mây cũng không dễ. Hồi mới làm, mình trồng trên đất trống, chăm kỹ mà cây vẫn lớn chậm. Sau được cán bộ hướng dẫn, mới biết cây mây phải trồng xen canh trong rừng, ở những chỗ có tán cây to phía trên nhưng không được quá rậm, vẫn còn ánh sáng vừa đủ cho mây phát triển. Giờ thì yên tâm rồi, mình bảo các con phải trồng nhiều nữa, để sau này có thêm cái ăn, cái mặc…”

Dự án quản lý cây mây bền vững tại Việt Nam do WWF hỗ trợ, đang đi đúng hướng. Nhờ khai thác bền vững, giá mây đã tăng gấp gần đôi so với vài năm trước, chất lượng cây mây cũng không ngừng tăng.

Trên đường xuống núi, chúng tôi gặp vợ chồng anh Hối Nờ đang kéo mây vừa khai thác trong rừng xuống đường nhựa để chở đến điểm thu mua của HTX Mà Cooih.

Anh Hối Nờ cùng vợ vận chuyển mây rừng xuống núi

Gạt nước mưa sũng sĩnh trên mớ tóc quăn rối bù, anh Hối Nờ cười rụt rè: “Mây nhà mình trồng, phải một hai năm nữa mới thu hoạch được. Cái này là mây rừng đấy, phải trèo núi vài tiếng mới tìm thấy mây, bứt rồi phải bóc vỏ, để nguyên sợi kéo ngược xuống chân núi mới bó lại được, không thì mây vướng vào cây rừng. Mưa gió thế này vất vả lắm. Ngày nào vợ chồng mình cũng đi thế đấy, mong đến lúc mây trồng cũng bán được”.

Tại điểm thu mua của anh Ngô Văn Đề – cũng là thành viên của HTX Mà Cooih, 2 bó mây của vợ chồng Hối Nờ cân được 59 kg. Phần thưởng cho công sức cả ngày dầm mưa leo núi bứt mây là gần 300.000 đồng – số tiền có thể chẳng đáng gì ở thành phố, nhưng vô cùng quan trọng với phần lớn người Cơ Tu ở Mà Cooih.

Anh Đề cho hay, trong quá trình đi lấy mây rừng, bà con còn hay hái lượm được một số loại lâm sản quý khác như mật ong tự nhiên, nấm lim xanh… Bên cạnh đó, lượm hạt mây cũng giúp người dân có thêm thu nhập đáng kể – mỗi kg hạt mây rừng loại tốt hiện có giá 170.000 – 180.000 đồng.

Nhà anh Ngô Văn Đề cũng là điểm thu mua mây của HTX Mà Cooih

Là dân gốc Hải Hậu, Nam Định, nghiệp tha hương mưu sinh của anh Đề đã trải qua nhiều nghề, nhanh nhẹn tháo vát, nên được Giám đốc Trần Quốc Trí tin tưởng nhờ giúp thêm cho khâu “đầu ra” của HTX Mà Cooih. Có nhà cửa khang trang ngay “mặt tiền phố núi”, có xe tải riêng chuyên chở hàng, công việc buôn bán khá phát đạt, nhưng anh Đề vẫn rất quan tâm đến cây mây.

Theo anh, chỉ tính trong nước đã có hàng trăm doanh nghiệp đang cần nguồn nguyên liệu mây chất lượng cao để làm hàng xuất khẩu, nên tương lai của cây mây còn đầy hứa hẹn. Anh Đề cho rằng tận dụng rừng tự nhiên để trồng mây là cách làm thiết thực, mang lại hiệu quả cả trước mắt và lâu dài. Trong thời gian tới, diện tích trồng mây chắc chắn sẽ ngày càng được mở rộng, bởi tiềm năng kinh tế cây mây mang lại rất lớn.

Anh Đề bật mí: “Tớ cũng đã trồng vài ngàn gốc mây xen canh trong rừng nghèo. Tớ có lợi thế là kinh doanh kiếm sống được, nên mây cứ để đó đã, chưa cần khai thác vội, vì mây càng to sẽ càng được giá hơn”.

“Ông chủ” phố núi không giấu diếm kỳ vọng về thành công nhờ rừng mây “của để dành” mà anh đang chăm sóc, chờ ngày thu hoạch thích hợp.

Còn người viết bài này cũng không thể không kỳ vọng và tin tưởng khi được chứng kiến những rừng mây đang hồi sinh dưới bàn tay vun xới của người dân Mà Cooih.

Nguyễn Việt

Mây rừng hiện có giá 4.300 – 4.800 đồng/kg

Nấm lim xanh bà con tìm được khi đi khai thác mây rừng

Mang mây giống vào trồng trong rừng nghèo