Trầm luân

Rất lâu rồi tôi mới nếm một nỗi buổi sâu sắc và dai dẳng như vậy. Chíp của tôi qua đời!

Chíp là con chó nhỏ xíu màu vàng, nó tới ở với chúng tôi được sáu tháng. Chíp về chùa, các sư cô thích lắm. Ngày đầu Chíp tới, tôi ngắm nhìn nó mỉm cười, trái tim trào dâng một tình yêu thương sâu sắc. Tôi biết rằng tình yêu thương này sẽ lớn dần theo thời gian khi chúng tôi chung sống bên nhau, nhưng ngay phút giây ấy tôi cũng ý thức rõ ràng rằng một ngày nào đó xa hơn, tôi sẽ mất Chíp. Ngày ấy sẽ thật buồn. Những tưởng ngày buồn ấy phải là vài năm nữa cơ, khi mà Chíp quá già. Nhưng cuộc đời luôn có những bất ngờ…

Tôi lặng đi khi nghe tin, lòng buồn da diết. Nỗi buồn càng quặn thắt hơn khi tôi biết Chíp chết một cách bất thường, chết trong đau đớn và sợ hãi. Lẽ ra tôi không buồn như vậy đâu, tôi đã chuẩn bị sẵn tâm lý để đối diện với việc ra đi của Chíp từ khoảnh khắc đầu tiên khi Chíp về chùa rồi cơ mà, nhưng tôi đã không lường trước được để chuẩn bị tâm lý cho một sự ra đi đau thương như vậy.

Mấy ngày liền các sư cô ai nấy đều lặng lẽ, chẳng buồn nói chuyện. Tôi thường giật mình thảng thốt mỗi khi nghe tiếng chó con nhà hàng xóm kêu, dù biết là không phải đâu, nhưng vẫn ngoái đầu nhìn ra cửa rồi nghe lòng mình thắt lại. Mong đây là một giấc mơ, để khi mở mắt ra sẽ thấy Chíp chạy tới và tôi sẽ ôm lấy Chíp thật lâu, thật chặt trong lòng.

Các sư cô nhỏ buồn nhiều hơn tôi, còn mẹ tôi thì đau như cắt vào da vào thịt. Bà khóc mấy ngày trời, vừa khóc vừa bảo: “Từ bây giờ mẹ không sang chùa nữa đâu, sang mẹ lại nghĩ đến con Chíp mẹ không chịu nổi. Mẹ nuôi nó sáu năm thì không sao, vừa đưa cho các sư cô nuôi thì nó chết. Để mẹ đón con Bút đồ về. Các sư cô không nuôi được đâu”.

Chúng tôi buồn nhưng không ai phản đối. Chùa rộng thênh thang lại không có cổng, không có hàng rào, thông thống bốn phương, chó nhà hàng xóm cứ vào hàng đàn. Chúng tôi giữ con Bút đồ lại, đàn chó dữ tợn sẽ cắn chết Bút đồ giống Chíp thì sao? Nó lại là giống chó đắt tiền, kẻ trộm mà biết chúng cũng chẳng để yên đâu.

Lắng nghe lòng mình tôi nghĩ, đó chỉ là một con chó, nó mới tới với chúng tôi sáu tháng thôi, còn tôi thì là một người tu hành, thường trực quán chiếu về sự vô thường, nay còn mai mất để buông xả, thế mà khi chia xa còn buồn như vậy, thử hỏi ngoài thế gian kia, khi ai đó cứ chấp chặt mọi thứ là của mình và tin tưởng rằng nó sẽ bên mình mãi, rồi bất ngờ cái họ nắm giữ đột ngột mất đi, họ sẽ đau khổ nhường nào?

Mẹ tôi rời Hà Nội về quê mua một căn nhà cạnh chùa để được ở gần con gái. Bà có bốn con chó, chúng tôi xin hai con đẹp nhất là con Bút đồ (giống chó Poodle) và con Chíp (giống chó Chihuahua nhỏ xíu) về nuôi. Ở Hà Nội, ông bà lớn tuổi nên không chơi đùa với chúng, mấy con chó cứ tự chơi với nhau thôi. Bút đồ và Chíp ở chung chuồng, ăn chung bát nên rất thân thiết và sống hòa thuận với nhau.

Về chùa, các sư cô trẻ ai cũng yêu động vật nên thi nhau bế, vuốt ve, chơi đùa. Lúc đầu thì bình thường, sau con nào cũng muốn được chú ý, được đối xử đặc biệt, nên chúng bắt đầu ganh tị nhau. Chíp thấy Bút đồ được vuốt ve cũng chạy tới leo hẳn lên lòng chủ để được thương. Bút đồ thấy Chíp được bế là lao vào đẩy Chíp ra, lại còn sủa để thị uy nữa. Bút đồ to hơn nên Chíp hay bị bắt nạt. Các sư cô đã thương yêu rất công bằng, đủ đầy nhưng lòng chiếm hữu, nhu cầu được công nhận và sự ganh tị vẫn hiện ra nơi hai con thú cưng. Chúng sinh mà! Bản chất của chúng sinh là tham, sân, si…

Nói chi đến động vật, ngay cả thực vật cũng vậy. Người ta làm thí nghiệm trên những cây hành và thấy: Những cây hành con được tách ra từ một cây mẹ, khi trồng cạnh nhau, củ của chúng phát triển nhanh, còn lá và rễ phát triển chậm, chúng sống hòa thuận, nhường nhịn nhau. Nhưng những cây hành con khác mẹ trồng gần nhau thì chúng cạnh tranh với nhau, củ phát triển chậm còn bộ rễ phát triển rất nhanh để giành được nhiều dưỡng chất và lá phát triển mạnh để vươn lên chiếm ánh sáng về phía mình. Thí nghiệm này được áp dụng với nhiều giống cây trồng khác và cho kết quả tương tự. Ai nói đất đá cỏ cây vô tình?

Chíp đã 6 tuổi, nó già rồi, đã rụng hai cái răng, một mắt rất kém. Nó lại mới sinh con nên vết mổ ở bụng vẫn chưa lành, chỗ đó bị nhiễm trùng mưng mủ, các sư cô phải chăm sóc mãi mới khỏi. Chíp rất thông minh, tình cảm, biết nhường nhịn và tự lập. Còn Bút đồ mới được gần 1 tuổi, khuôn mặt xinh xắn, bộ lông xinh xắn, rất nhí nhảnh và cũng rất thông minh, tình cảm. Nhưng đừng tưởng vì thế mà các sư cô yêu thích Bút đồ hơn đâu nhé. Không hề! Các sư cô yêu thích hai con như nhau, công bằng từ trong tâm cho tới hành động.

Tình yêu vốn bắt nguồn từ sự tham ái nên đòi điều kiện: phải đẹp, phải hay, phải thế này thế nọ… thì mới yêu, còn không thì thôi, mà đã yêu thì phải được yêu lại, nếu không thì cũng nghỉ. Còn tình thương bắt nguồn từ bốn yếu tố : Từ, Bi, Hỷ, Xả, nghĩa là: Ban tặng niềm vui, làm vơi nỗi khổ, vui vẻ chấp nhận khiếm khuyết của đối phương, không nắm giữ chiếm hữu, vì vậy tình thương không bị chi phối bởi đẹp – xấu, hay – dở, thân – sơ, cũng chẳng cần đáp trả.

Có lần sư cô Nguyên Hương gặp một con mèo hoang dị tật vừa cai sữa, bị mẹ bỏ rơi. Nó què bẩm sinh không chạy nhanh được, người nó bẩn thỉu, gầy giơ xương, khô đét, lông xơ xác dựng đứng. Mẹ bỏ rồi mà nó không thể tự kiếm mồi được nên đói và lạnh. Nó đang ốm nặng. Sư cô Nguyên Hương bế mèo về chùa chăm sóc. Mặt của con mèo cứ dại dại, ngáo ngơ. Sợ mọi người chê và không yêu thích con mèo, sư cô Nguyên Hương nói: “Con sẽ chữa bệnh và chăm sóc nó, một thời gian nữa nó sẽ đẹp”. Và sư cô Nguyên Hương đã dành rất nhiều tình thương cho chú mèo con. Khi có tình thương thì cái gì cũng đẹp.

Ở chùa sư cô Nguyên Hương chăm Chíp và Bút đồ nhiều nhất, nên hai đứa quấn sư cô Nguyên Hương lắm. Tôi rất yêu thương chúng, nhưng ít chơi, ít chăm, lại hay đi xa dài ngày, vậy mà chúng cũng quấn tôi suốt. Lúc tôi đi vắng, khi các sư cô ngồi thiền tụng kinh, Bút đồ và Chíp hay tới ngồi cạnh sư cô Nguyên Hương và sư cô Nguyên Minh. Nhưng khi tôi ở chùa, giờ ngồi thiền cả hai con đều tới nằm cạnh tôi, có lúc một đứa nằm ở vạt áo dài trước, một đứa nằm ở vạt áo dài sau. Các sư cô bảo: “Chúng nó khôn lắm, chúng biết sư phụ to nhất chùa nên … nịnh đấy”, người khác lại bảo “vì sư phụ có nhiều năng lượng bình an nên nó cảm nhận được và thích ở gần”. Tôi không phải là chúng nên không biết chúng nghĩ gì.

Những chuyến hoằng pháp và từ thiện khiến chúng tôi hay phải đi xa, thường là ba, bốn ngày, lâu là bẩy đến mười hai ngày. Lúc ấy tất cả mấy thầy trò đóng cửa đi hết vì không nỡ bỏ lại một ai. Chìa khóa chùa đem gửi dân, Phật tử tự vào chùa quét dọn, tự tụng kinh, tự mở cửa đóng cửa. Dịp ấy Bút Đồ và Chíp được gửi sang nhờ mẹ tôi chăm. Khi xong việc trở về, các sư cô sang bà đón chó, hai đứa nó sung sướng lao ra nhẩy cẫn lên theo các sư cô về chùa. Mẹ tôi là chủ cũ, chúng mang ơn lắm, nhưng ở với các sư cô bọn nó hạnh phúc hơn vì được chăm sóc, yêu thương, và đặc biệt là được tung tăng nô đùa cùng các sư cô.

Bữa ấy tôi đi xa lâu ngày, cứ tưởng khi trở về hai con sẽ hớn hở quấn quýt đón mình như mọi bận. Nào ngờ chỉ có Bút đồ vẫn nồng nhiệt như trước, còn Chíp uể oải mừng rồi lặng lẽ vào chuồng nằm, mặt buồn thiu. Tôi hỏi sư cô Nguyên Hương:
– Chíp ốm à? Nó bị sao đấy?
– Dạ, nó bị … thất tình ạ. Mọi lần con sang đón cả hai con đều mừng rỡ theo về, lần này chỉ có Bút đồ mừng rỡ, còn Chíp thì cũng mừng nhưng nó không muốn về…

Ồ, thì ra “nàng” đang đến “thời kỳ” mà bên bà lại có hai “chàng” chó đực. Chó buồn, chó vui, chó khóc tôi đã gặp rồi nhưng chó … thất tình đến hôm nay tôi mới “vinh hạnh” được diện kiến.

Sư cô Nguyên Hương nói bâng quơ:
– Vướng vào tình là khổ lắm!

Sư cô mới có hai mốt tuổi, trẻ đẹp, vui tính, thông minh, đã quay lưng lại với bao chàng trai quý mến mình để xuất gia tu hành khi tuổi đời chưa đầy mười chín. Đã có mảnh tình nào đâu? Biết gì về tình mà cũng phát biểu y như thật.

Mẹ tôi cũng biết chuyện Chíp “thất tình”, sang chùa chơi bà ngồi “tâm sự” với nó. “Bây giờ mày mà đẻ là mày chết đấy Chíp ạ. Ở đây không có bác sĩ thú y đâu. Mỗi lần đẻ là đau lắm, nuôi con thì gầy dài gầy dộc ra, con lớn một tí người ta lại bắt mất. Khổ thân! Từ nay không đẻ nữa nhé! Tưởng sung sướng lắm à, tao mà nhốt mày chung chuồng với con Phốc, tranh ăn của nó xem, nó cắn cho cả ngày”.

Rồi bà kể: “Giống chó này không đẻ tự nhiên được mà phải mổ đẻ. Mỗi lần nó đẻ là tôi phải gọi bác sĩ thú y tới. Con chó thì bé như cái nắm tay, bác sĩ lấy cái kim tiêm to thế này này xiên vào gáy nó, con chó đau quá chỉ kịp ớ lên một tiếng rồi đơ người ra, bác sĩ lấy dao mổ bụng, rồi thò ngón tay to tướng vào bụng con bé lôi con của nó ra, sau đó lấy kim chỉ xiên vào bụng khâu lại. Nhìn thương ơi là thương! Con chó khôn lắm. Nó bị gây mê nằm im nhưng khi người ta lấy con của nó ra, nó sợ mất nên lấy hết sức cố mở mắt mà không mở được, nó thè lưỡi tìm đứa con, bác sĩ bế chó con đặt gần miệng nó, nó liếm con được một cái rồi mệt quá gục xuống thiếp đi.”

Tôi lặng nhìn Chíp thở dài. Chúng tôi yêu thương Chíp bằng một tình thương thuần khiết, chân thật, tình thương này chỉ đem đến an vui, bình yên, no ấm. Một tình yêu thương không có vết dấu của đau đớn, sầu khổ. Thế mà tình yêu đích thực ấy của tất cả các sư cô cộng lại đối với Chíp cũng không bằng một con chó đực. Con chó đực kia thì đem lại gì cho Chíp? Phút giao hợp có thực sự sung sướng không? Giả sử sung sướng thật thì đằng sau giây phút ngắn ngủi ấy là gì? Là mang nặng, đẻ đau, là buồn khổ khi bị người ta bắt mất con của mình… Còn nếu giao hợp không sung sướng thì thành ra mất cả chì lẫn chài à?

Có người câu cá, họ mua mồi nhựa lắp vào lưỡi câu, mồi nhựa rất mềm, có hình dáng, mầu sắc giống với mồi thật. Con cá nhìn thấy mồi hấp dẫn lao vào đớp tưởng là ngon lành béo bổ lắm, nào ngờ mắc câu. Đáng thương thay, miếng mồi mà nó đem cả mạng sống của mình ra để đổi lấy lại là mồi nhựa. Cũng có những con cá đớp được mồi thật, nhưng mồi thật hay mồi giả thì cũng đều chung cảnh nuốt phải móc câu như nhau. Những lưỡi câu của phiền não, của gánh nặng mưu sinh, của oằn vai trách nhiệm, của dây trói buộc ràng, là cả khổ đau của yêu thương mà phải xa lìa. …

Tôi nghe bà nội kể, vào những năm xảy ra nạn đói, có người đói quá, không có tiền, ra chợ liều lĩnh xông vào ăn cướp của người ta một củ khoai lang luộc. Người bán hàng tiếc của, rút đòn gánh ra đánh cho tới tấp, nhưng vì đói quá nên người kia cố chịu đau vội vàng nhét củ khoai vào miệng nuốt rồi chạy vì sợ người ta giằng lại mất củ khoai vừa trộm được. Có người đói quá nửa đêm mò vào bếp của nhà hàng xóm ăn cắp cơm cháy, bị bắt quả tang, bị người ta mắng cho té tát. Hồi đó còn bé, nghe bà kể chuyện, tôi thấy xót thương, xót thương vô hạn… Tôi không thích ăn khoai, cũng không thích ăn cơm cháy vì tôi luôn được ăn no cơm mẹ nấu rất ngon lành rồi. Đối với người đói kia thì củ khoai lang luộc hay miếng cơm cháy ngon vô cùng, họ chấp nhận bị đánh, bị chửi mắng để được ăn, vì họ đói và vì họ chưa tìm được miếng gì ngon hơn.

Trong kinh Phật có câu: “Chốn dâm căn là cái biển ô uế, cớ sao chúng sinh cứ thích tìm vui nơi ấy?”. Đối với những bậc chân tu, họ thấy những điều ấy rất rõ ràng vì họ đã được nếm trải những niềm vui thanh cao, thâm sâu trong thiền định. Nhưng đối với phần đông người thế gian “chốn ấy” như củ khoai, như miếng cơm cháy của người bị bỏ đói lâu ngày, suốt ngày nghĩ tưởng, tìm kiếm, chạy theo. Để rồi như một bài kinh khác nói: “vị ngọt rất ít mà chất cay đắng quá nhiều, cái hưởng thụ rất bé mà tai họa rất lớn”.

Chíp đã trải qua vô số lần đau đớn về thể xác, tan nát về tâm hồn, thế mà khi khổ đau vừa tạm nguôi ngoai, bình an chưa được bao lâu đã u mê chối bỏ tình thương thuần khiết và niềm hạnh phúc chân thật bên các sư cô để lao vào một con chó đực và rồi vòng luân hồi khổ đau thống thiết lại tái diễn. Khổ đau ấy còn lặp lại bao nhiêu lần, bao nhiêu kiếp thì Chíp mới tỉnh ngộ mà dừng lại Chíp ơi!

Tôi lặng lẽ đi ra mộ Chíp, nấm mộ bé xinh chi chít những chân hương mà mỗi sư cô khi nhớ Chíp lại lặng lẽ một mình ra thăm và cắm lên. Tôi cảm như Chíp đang rối rít vẫy đuôi quấn quanh chân mình, nó rít lên sung sướng dụi đầu vào chân tôi. Tôi gửi tình yêu thương đến nó, tình thương không cách trở âm dương.

Tôi hướng tâm đến nó dặn dò: Con đã may mắn được về chùa, được nếm trải tình thương đích thực, được sống những tháng ngày hạnh phúc. Sư phụ đã quy y Tam Bảo cho con, con đã ăn chay, ngồi thiền, tụng kinh cùng với các sư cô. Sáu tháng cũng là khoảng thời gian đủ dài cho con được nếm hương vị thanh tịnh, an vui của chánh pháp. Khi con qua đời, các sư cô đã làm lễ cầu siêu cho con, phóng sinh và hồi hướng công đức tu tập cho con. Với những phước duyên ấy, kiếp sau con có đủ cơ hội thoát thân súc sinh mà tái sinh làm người. Sư phụ biết những hạt giống phàm tục trong con còn nhiều, con vẫn bị tâm tham, sân, si chi phối, vẫn ưa muốn lao theo ái dục, để rồi chuốc lấy khổ đau. Nhưng trên đường trần bão táp con đi, từ sâu thẳm nơi tâm thức vẫn nhắc nhở con về những tháng ngày sống an vui bên sư phụ và các sư cô. Con vẫn mơ hồ biết rằng đâu đó tại trần gian này có một nơi ít khổ đau, nơi có nhiều bình an và tình thương. Nơi ấy là một địa danh cụ thể trên trái đất hay nơi ấy vốn có sẵn trong tâm của con? Nếu là một địa danh cụ thể thì nó nằm ở đâu trên quả địa cầu này? Nếu nó nằm trong chính tâm con thì nó nằm ở xó nào của tâm? Bằng cách nào để chạm tới được? Con sẽ thao thức tìm kiếm câu trả lời!

Rồi qua kinh nghiệm của bản thân và quan sát những người xung quanh, con lờ mờ nhận ra rằng ái tình, danh vọng, bạc tiền, sự ăn chơi, hưởng thụ vật chất mà con và bao người đang theo đuổi không thực sự đem lại hạnh phúc mà chỉ gây thêm phiền muộn, lo lắng… Con bỗng loáng thoáng nhớ tới những giây phút an lạc từng được nếm trải trong tiền kiếp, trạng thái thiền định được huân tập từ kiếp trước lâu lâu lại bất ngờ chồi lên đưa tâm con vào sự an yên. Nhất là mỗi khi đi ngang qua một ngôi chùa, cảm giác thân thuộc cứ ập về, tiếng chuông vang lên thì cả thân tâm con đều chấn động. Tiếng chuông như nhắc nhở, như gọi mời, như giục giã…

Cùng lúc ấy những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ cũng thoắt ẩn, thoắt hiện trong con về những lần đau đớn thể xác, tan nát tâm hồn. Trong vô thức con sợ, con tránh, con chán chường và quay lưng lại với những gọi mời, những lời tán tỉnh…

Cảm nhận tâm linh càng sâu sắc bao nhiêu thì sự nhàm chán thế tục lại càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Sự khao khát bình an nội tại cứ lớn dần thôi thúc con lên đường tìm kiếm. Rồi một ngày trên nẻo phiêu linh mệt nhoài, tưởng chừng vô vọng, con bất ngờ gặp sư phụ và các sư cô. Với những thiện duyên chúng ta đã có với nhau trong tiền kiếp, chúng ta nhanh chóng tin nhau, hiểu nhau và thương yêu không rời. Con lại theo sư phụ và các sư cô về chốn cũ, nơi thanh bình, yên vui.

Qua bao kiếp trôi lăn, nếm bao niềm khổ ải, con đã tỉnh ra và trân trọng đời sống phạm hạnh mình đang có. Con bắt đầu nghiêm túc dành thời gian chuyên cần thanh lọc thân tâm, siêng năng làm lành bỏ ác. Rồi tâm hiểu biết của con ngày càng lớn mạnh, con đã phân biệt được cái gì đem tới hạnh phúc, cái gì dẫn đến thương đau. Trái tim thương yêu của con dần mở rộng. Con sẽ vững chãi bước đi trên con đường chuyển hóa tự thân và góp phần vào thức tỉnh muôn loài.

Con yêu!
Cũng có thể chất liệu phàm phu trong con còn nhiều quá. Hạt giống chánh niệm mà các sư cô cấy vào tâm thức con trong sáu tháng không đủ sức chiến thắng những tham dục, những sân si mà con đã chất chứa trong vô lượng kiếp. Con sẽ còn chật vật trong sự chuyển hóa của mình. Và có thể một lúc nào đó bản năng thấp kém trong con trỗi dậy, lại thêm lần nữa con rời bỏ sư phụ và tăng thân để chạy về phía ngũ dục, lao mình vào giữa bão giông. Cố giằng trái đắng ra khỏi tay con chỉ khiến niềm khao khát trong con càng mãnh liệt, biết vậy nên sư phụ chỉ im lặng thương xót nhìn theo. Nếu cần thêm trải nghiệm, thì trái đắng đây này, con cứ cắn đi, hãy nhai cho kỹ và ngậm thật lâu trong vòm miệng, khoan đừng vội nuốt, đừng khỏa lấp bằng nắm đường. Hãy để nguyên cho vị đắng tê cứng miệng con, cho con bừng tỉnh từ từ buông trái đắng xuống, quay đầu nhìn lại về phía non xưa, nơi sư phụ và các sư cô vẫn đang an nhiên thiền định. Sư phụ biết sớm hay muộn gì con cũng sẽ trở về.

Sư phụ và Tăng Thân vẫn chờ đợi con, dù là vô lượng kiếp…

Sư cô Lĩnh Nghiêm