Tình sử “Thuyền Trưởng” 20 năm nơi đảo Kỉn

Chị tên là Vi Thị Thuyền, còn anh là Nguyễn Văn Trưởng. 20 năm lập nghiệp trên đảo hoang, đánh cá, trồng cây, xây tổ ấm… chuyện tình của họ đã viết thêm những trang thắm thiết cho huyền sử hồ Cấm Sơn, nơi nhạc sĩ Phó Đức Phương sáng tác ca khúc đi cùng tháng năm: “Hồ trên núi”.

IMG_6882
Bình minh trên hồ Cấm Sơn

Mênh mang mặt nước Cấm Sơn

Rời thị trấn Chũ của huyện Lục Ngạn, theo con đường nhỏ sâu hút mãi vào phía núi khoảng 20 km, từ đỉnh đèo Cạn nhìn xuống, hồ Cấm Sơn như viên ngọc xanh huyền ảo giữa trập trùng núi giăng.

Đoạn đầu hồ khá nhỏ, chỉ rộng khoảng vài trăm mét, nhưng càng vào sâu phía trong, mặt nước càng mở ra mênh mông, có chỗ rộng tới 7 km. Mùa cạn, diện tích mặt hồ đã là 2.600 ha, còn vào mùa mưa, mặt nước Cấm Sơn trải rộng đến 3.000 ha, kéo dài 30 km. Ngày hiếm hoi trời đông hửng nắng, nước hồ lóng lánh như rừng hoa bạc, sóng lấp lóa những mạn thuyền thong thả mái chèo khua sương mỏng, cảnh tựa trong thơ: “Áo chàm xuống núi bơi thuyền – Khăn nam phân phất như tiên dưới trần”…

Cư dân vùng lòng hồ chủ yếu là người Nùng, bên cạnh một số ít người Sán Dìu, Cao Lan, Hoa, Tày và người Kinh. Cậu lái đò đưa tôi “xâm nhập” Cấm Sơn cũng người Nùng, ở thôn Đấp thuộc xã Sơn Hải, tên là Lâm Văn Tài. Khởi động con thuyền sắt gắn máy tháo từ xe Wave Tàu cũ, chạy rề rề đến sốt ruột vì phải chở thêm cả chiếc Future vỡ yếm của tôi không biết gửi ai trên bến vắng ngắt, Tài cho biết: “Đường vào đây mới làm xong thôi anh ạ. Trước phải dắt xe lội 3 con suối mới vào đến đầu hồ, đi thêm nữa chỉ có dùng thuyền. Dân lòng hồ còn nghèo lắm, đến nay vẫn còn những thôn biệt lập chưa kéo được điện lưới.”

Tài sinh năm 1979, có 3 con, nhà trồng sắn với ít gốc vải thiều, chỉ đủ ăn cũng khó. Con đò của Tài máy yếu, gặp hôm bão về, mưa lớn gió to là không chạy nổi, có ra hồ cũng bị gió đẩy lùi dù “tăng hết ga”; đã thế lại ít khách, nên cậu ta thường thả câu quăng chài kiếm cá nuôi con. Cá hồ Cấm Sơn từ lâu đã nức tiếng nhiều, to và ngon. Tài bảo, hồi còn nhỏ nghe nói có mấy nhà khoa học người Nga đến vùng hồ này khảo sát, lặn xuống đáy hồ một lúc bỗng hốt hoảng bơi lên, la hét rằng nhìn thấy quái vật. Thủy quái thì dân lòng hồ chưa thấy, chứ cá to cỡ vài chục kg ở Cấm Sơn không hiếm, dù gần đây do đánh bắt quá mức nên tôm cá đã thưa thớt nhiều.

Tài ghé thuyền vào nhà anh rể là Vi Văn Lợi cho tôi hỏi mua cá. Anh Lợi mới 38 tuổi (sinh năm 1977) mà tóc bạc quá nửa đầu, cuộc mưu sinh nhọc nhằn nuôi 4 đứa con đang tuổi đi học khiến anh gầy gò khẳng khiu trong tấm áo bạc phếch. Lợi cười hề hề: “Nhà em đông miệng ăn, đánh cá cũng chỉ tranh thủ lúc nông nhàn nên đâu có được nhiều mà bán. Anh muốn mua cá thì em đưa vào sâu trong lòng hồ, đến mấy nhà chỗ đảo Trung, đảo Kỉn mới có”.

IMG_6860

Thuyền cập bến đảo Kỉn

Vui chuyện cá tôm, Lợi kể, hồ Cấm Sơn còn nhiều cá lớn sót lại trong lứa cá được thả từ thời chiến tranh. Năm trước, ở xã Hộ Đáp có anh Vi Văn Quý bắt được con mè nặng 20kg, dài hơn 1 m. Sau đó không lâu, anh Trần Văn Tiến ở xã Tân Sơn cũng bắt được cá mè 19kg. Con cá lớn nhất bắt được ở hồ Cấm Sơn nặng tới 54kg, sa lưới hồi năm 1994, đường kính mỗi chiếc vảy cá khoảng 4cm, cái đuôi xòe to như nan quạt rộng chừng 50cm được một người trong vùng mua về gắn trên cánh cửa nhà…

Do tôm cá đánh bắt tương đối thuận lợi, một số người ở các xã ven hồ đã “chuyển nhà” ra ở các đảo giữa hồ để tiện sớm khuya thả lưới quăng chài. Nhất là đầu mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về cũng nhằm mùa sinh sản của cá tôm, lũ cá tức trứng thường nổi lên hoặc dạt vào bờ dày đặc. Quang cảnh lòng hồ lúc này hệt như lời hát “Thuyền ta ngược, thuyền ta xuôi – Giữa dòng nước bạc nhịp chèo ta bơi…”. Ban ngày, rất nhiều thuyền độc mộc dàn hàng quăng chài bắt cá, đêm xuống lại khoan nhặt mái chèo thả lưới dưới trăng…

Chuyện tình trên hoang đảo

Núi Kỉn không cao lắm nhưng khá dài, nhiều đỉnh. Sau khi làm đập thủy điện, nước dâng, một phần núi bị nước chia cắt khỏi “núi mẹ”, người ta gọi là đảo Kỉn. Lòng hồ Cấm Sơn rất nhiều đảo nhỏ như thế, phần nhiều là đảo hoang, lác đác mấy đảo có ba bốn mái nhà của dân chài lưới. Riêng đảo Kỉn chỉ có duy nhất vợ chồng anh Nguyễn Văn Trưởng – chị Vi Thị Thuyền ra lập nghiệp.

IMG_6863

Anh Trưởng kiểm tra lưới trước khi đi đánh cá

Thuyền chúng tôi cập đảo Kỉn đúng lúc anh Trưởng đang sửa lại tấm lưới sau buổi đánh cá, cười bẽn lẽn khi khách lạ bảo hâm mộ tình sử “một mái lều tranh hai trái tim vàng” của anh chị quá, nên đường đột đến nhà. Qua phút ngại ngùng, anh cho biết mình cùng tuổi Quý Sửu với vợ (1973), vốn dân thôn Mấn thuộc xã Tân Sơn. Dường như duyên nợ ghép đôi của hai cái tên “Thuyền Trưởng” khiến họ không dứt được nhau, dù hai bên gia đình quyết liệt phản đối. Là bởi anh chị có chút quan hệ dây mơ rễ má, họ xa lắm và chẳng liên quan huyết thống gì, nhưng ở quê thế cũng đủ “to chuyện”, cứ dính đến họ hàng dù đã qua 5 đời vẫn bị cấm ngặt.

Anh cười hiền lành: “Với lại nhà mình đông quá, mình là thứ hai mà sau mình còn 5 đứa em, mình ra đảo thì ở nhà càng đỡ chật”. Nói dễ vậy, chứ đảo Kỉn 20 năm trước hoang vu biệt lập giữa lòng hồ, um tùm bụi rậm với cỏ dại, trông ra tứ phía chỉ thấy gần thì nước bạc mênh mang, xa thì ngút ngàn núi vắng. Chị Vi Thị Thuyền tiếp lời chồng: “Thương nhau đến mức quyết bỏ làng đi với nhau, nhưng khi bước chân lên đảo, vợ chồng tôi cũng ngồi thẫn thờ cả ngày, không nói nổi với nhau câu nào”.

Chẳng còn đường lùi, ngồi mãi rồi cũng phải đứng dậy phát bụi dọn cỏ, dựng tạm căn lều lấy chỗ ở. Đôi tay người nông dân tưởng đã chai sạn, vẫn sưng phồng ứa máu sau từng ngày miệt mài khai phá đảo hoang. “Của hồi môn” có mỗi chiếc thuyền nhỏ, “Thuyền Trưởng” cùng nhau chài lưới mưu sinh.

Anh Trưởng kể, hồi trước cá tôm ở Cấm Sơn nhiều và to lắm, có cả một xí nghiệp thủy sản của huyện Lạng Giang khai thác. Anh vẫn nhớ hồi tháng 5/1996, một con cá trắm khổng lồ sa lưới của Xí nghiệp Thủy sản. Những người có mặt lúc đó đều khẳng định, đó là con trắm đen nặng cỡ 100kg, họ không dám bắt mà chạy đi mượn súng để bắn, nhưng súng chưa về kịp thì cá đã vùng vẫy trốn thoát. Có người nhảy xuống ôm đầu con cá, nhưng nó chỉ cần quẫy nhẹ là đẩy người ra xa. Sau đó, nhiều người tìm mọi cách vây bắt lại con cá đó, nhưng trừ vài lần “tái ngộ thủy quái”, không ai đủ phương tiện và đủ sức bắt được nó, có người ở xã Tân Sơn còn suýt bị lật thuyền vì cá quẫy…

thuyen truong 1

Hạnh phúc bình dị của “Thuyền Trưởng”

Vợ chồng trẻ biết nghề chài lưới, dù sống trên đảo hoang thiếu thốn đủ thứ, nhưng dưới nước sẵn cá tôm nên cuộc sống vẫn không thiếu tiếng cười. Vất vả thực sự tưởng chừng không vượt qua nổi khi 2 đứa con lần lượt chào đời trên đảo Kỉn. Chị Thuyền nhớ lại: “Các cụ bảo chửa là cửa mả, người ta sinh con ở bệnh viện còn lo, huống hồ mình sinh con ở đây. Nhưng từ đảo đi thuyền vào đến làng gần nhất cũng mất hơn nửa giờ, từ làng lên trạm xá còn cả chục cây số xuyên rừng vượt núi nữa, nếu cố đi có khi đến đẻ rơi giữa rừng”.

Lũ trẻ đi chưa vững đã phải xuống thuyền theo bố mẹ đi bắt cá, vì để các cháu ở đảo cũng chẳng có ai trông nom. Thấy không ổn, anh Trưởng ít đi đánh cá hơn, chuyển sang đặt rọ tôm ven bờ các đảo hoang. Thời gian còn lại, anh chị cần mẫn trồng cây ăn trái, nuôi đàn gà… Hồ Cấm Sơn hào phóng ban tặng người hữu tình, mỗi ngày anh Trưởng đặt 400 rọ tôm, thế mà chịu thương chịu khó tích cóp rồi cũng đến lúc đủ tiền xây nhà. Đảo Kỉn cũng chẳng phụ người bỏ công khai phá, những rặng cây trái dần dà phủ hết đất hoang bằng màu xanh hy vọng ấm no.

“Thuyền Trưởng” tâm sự, một nhà một đảo, không thương yêu nhau thì chẳng làm nổi việc gì. Riêng việc học hành của 2 con đã cực khổ vô vàn, ngày nào anh Trưởng cũng kẽo kẹt mái chèo 4 chuyến đưa đón các cháu từ đảo vào bờ, rồi lại vượt hơn chục cây số đường núi mới đến được trường. Rồi đến đận anh chị xây nhà, chỉ chuyện vận chuyển vật liệu xây dựng ra đảo đã mất hơn hai tháng, từ lúc khởi công đến khi hoàn thành ngôi nhà mái bằng xinh xắn giữa đảo Kỉn mất đúng 1 năm ròng. Cũng may, thấy con cháu yêu thương nhau và quyết chí lập nghiệp, các cụ cũng chuyển ý dần, không hắt hủi nữa, bà con họ hàng còn ra đảo giúp xây nhà…

20 năm thấm thoắt, đảo Kỉn giờ đã mang dáng dấp “vườn du lịch sinh thái” với lối đi lát gạch từ bến thuyền lên nhà xuyên giữa vườn cây trĩu quả. Bên cạnh những gốc xoài, gốc ổi trồng từ ngày đầu ra đảo nay đã tỏa bóng sum suê, anh chị còn có vài trăm cây bưởi da xanh đặc sản miền Nam đang bói quả. Cô con gái lớn học sư phạm mới lên xe hoa theo chồng về Hải Dương, cậu em trai cũng đang học dưới đó. Anh Trưởng xuề xòa: “Cháu nó 20 tuổi lấy chồng, ở lòng hồ thế cũng chẳng sớm sủa gì, tương đương hồi vợ chồng mình bắt đầu tìm hiểu vậy thôi”. Lại như “ngày đầu”, đảo Kỉn chỉ có “Thuyền Trưởng” sớm hôm ra đụng vào chạm, chỉ khác là đang chờ lên chức ông bà ngoại ở tuổi 42.

Anh chị vẫn theo nghiệp cá tôm, mới đầu tư tấm lưới mới “hoành tráng” hết 40 triệu đồng, thêm mấy cái rọ bát quái. Anh Trưởng giơ mảnh lưới cho tôi xem: “Mình dùng lưới mắt to, chỉ bắt cả lớn thôi, con nào nhỏ phải để cho nó lớn, lâu dài còn bắt tiếp chứ không thì cạn kiệt mất. Tuần trước vừa được con chép hơn 9 kg đấy… Tiếc rằng dân quanh vùng ít ai chịu dùng loại này, họ đánh cá bằng lưới mắt nhỏ xíu, con tép cũng khó thoát, vì miếng cơm manh áo trước mắt mà hủy hoại cả tương lai”.

Ngoài buổi thả lưới, anh chị còn đánh thuyền đi mua gom sắn ở các nương, mang về phơi và bán lại cho đầu mối trên bờ, rồi chăm tiếp đàn gà đông đúc… Hỏi sao không lên bờ ở với các con, chị Thuyền cười ý nhị: “Ở đâu thì đó là nhà, bao công sức tâm huyết cả tuổi trẻ vợ chồng mình đã gắn với đảo Kỉn, chẳng muốn đi đâu nữa. Bây giờ đã kéo được điện từ bờ ra đảo, có nhà rộng, đủ cả ti vi, tủ lạnh với 2 cái thuyền máy, vào bờ lúc nào cũng tiện”.

Anh Trưởng tủm tỉm liếc vợ: “Ở đảo có vợ với chồng nên chăm nhau kỹ lắm. Hôm nọ mình đau mắt nhẹ thôi, nhà mình đã cuống lên lôi đi khám tận Hà Nội, thuốc thang vác về cả đống, lại bắt nghỉ ở nhà không cho đi thả lưới, mấy hôm rồi chưa được gặp các em bán cá ở chợ(!)”.

Cả khách lẫn chủ cười vang khi chị Thuyền dành cho chồng cái nguýt dài âu yếm như thuở mới “đò đưa”…

Thuyen Truong

Thả lưới giữa lòng hồ

Để không mai một tiềm năng

Ngắm nước hồ Cấm Sơn mênh mang hiền hòa, sạch bong không một cọng rác, tôi thắc mắc sao vùng này không thấy ai nuôi cá lồng? Anh Trưởng lắc đầu: “Mấy phen tớ định nuôi mà rồi phải bỏ. Hồ Cấm Sơn thuộc 4 xã của huyện Lục Ngạn, gồm xã Hộ Đáp, xã Sơn Hải, xã Cấm Sơn và xã Tân Sơn. Một phần nhỏ phía đầu hồ giáp với xã Hòa Lạc và thị trấn Chi Lăng (thuộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn). Thế nên đánh cá thì ai cũng có phần, mà chẳng ai chịu quản lý, khiến nhiều người “ăn sổi” đánh bả thuốc sâu ven bờ, tôm cá lớn bé ngửa bụng từng đám. Như thế thì sao dám nuôi cá!”.

Anh Trưởng khẳng định, nếu chính quyền dẹp được nạn đánh bả và xiết điện, thì chắc chắn nhiều gia đình trong vùng sẽ nuôi cá lồng trên lòng hồ. Anh còn ấp ủ ý định nuôi cả giống cua đặc sản hồ Cấm Sơn, trông xù xì xấu mã nhưng rất ngọt thịt, bán được giá lắm.

Đó là chưa kể đến tiềm năng du lịch. Bên cạnh cá Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn còn nhiều đặc sản như mật ong hoa vải, quả hồng đỏ, hoặc món mì Chũ nổi tiếng của làng nghề truyền thống Nam Dương. Nhiều quả đồi, sườn núi ven hồ được người dân trồng vải thiều, mùa vải chín đỏ ối từng vạt như rừng soi bóng nước xanh, trên hồ tấp nập thuyền nan, thuyền mát chở quả về xuôi, nhộn nhịp như lễ hội, vô cùng ngoạn mục. Chẳng thế mà từ năm 1972, nhạc sĩ Phó Đức Phương được mời lên đây viết bài hát “Vịnh cảnh hồ Cấm Sơn” vốn chỉ định làm nhạc nền cho một bộ phim tài liệu, nhưng xúc cảm trước cảnh sơn thủy hữu tình đã nâng tầm một bản “địa phương ca” thành tình khúc “Hồ trên núi” nổi tiếng được rất nhiều người yêu thích.

Thực tế những năm gần đây, mùa hè nào cũng rất đông khách về Cấm Sơn, cắm trại trên các đảo hoang, bơi lội, đốt lửa trại, hát hò thâu đêm. Tiếc rằng đó chỉ là hoạt động tự phát, khách vào lòng hồ phải mang theo tất cả vật dụng, thực phẩm, do cả vùng không có dịch vụ gì. Địa phương cũng đã lập dự án quy hoạch xây dựng xung quanh khu vực hồ, với mục tiêu biến Cấm Sơn thành điểm tham quan nghỉ mát hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch: bơi thuyền, leo núi, câu cá, đi thăm thôn bản của đồng bào dân tộc, đi chơi rừng… nhưng tất cả đang nằm trên giấy.

Chính quyền chưa làm thì dân phải tính thôi. “Thuyền Trưởng” cho biết, sang năm cậu con trai học đầu bếp ở Hải Dương ra trường, có thể tính chuyện mở quán ăn phục vụ khách du lịch đến Cấm Sơn, với những món đặc sản chế biến chính từ cá tôm của lòng hồ…

Bài và ảnh: Nguyễn Việt