Thê Nhang và Thơ Ròm

7384_kiemtien1

Thê Nhang và Thơ Ròm không phải hai anh em, nhưng ở cùng một xóm, nó ở xóm trên còn tôi xóm dưới. Tuy không là anh em một nhà, nhưng cả hai đứa có cùng chung đặc điểm, cao nhòng nhòng và ốm nhom nhom. Đôi chân hai đứa như bốn ống thổi lửa, bốn cánh tay cáng vá xương xẩu tong teo.

Thằng Thê lớn hơn tôi mấy tuổi, nhưng chưa bao giờ tôi gọi nó bằng anh. Thời đó hơn kém nhau bốn năm tuổi vẫn gọi “tao mi, ông thằng” xả láng. Tôi hay đi theo thằng Thê Nhang mót khoai lang. Nó mót khoai giỏi lắm, cuối buổi bao của nó luôn đầy. Nó vác còn tôi xách.

Hôm nọ, Thê Nhang chủ động đề nghị tôi chiều nay mót khoai nhà nó. Tôi nghe lời, hẹn nhau có mặt tại đám khoai lang ở Gò Ba. Thê Nhang và ba nó đánh hàng đào từng giồng một. Nó len lén dùng lưỡi cuốc lấp cho tôi mấy củ khoai to màu tím đỏ rồi nháy mắt ra hiệu. Tôi hiểu thông điệp ấy, canh chừng ba nó không để ý thì cuốc vào chỗ mấy củ khoai nó chôn, xốc lên nhặt bỏ vào bao, trong lúc đó vẫn giả bộ cuốc xới xung quanh “tọa độ chết” ấy. Cứ như thế chiều ngày đó, tôi “mót” được của nhà Thê Nhang một ít khoai lang to có, nhỏ có.

23-Mót khoai

Phía trên nhà Thê Nhang là nhà Thơ Ròm. Thời “bao cấp” đội văn hóa thông tin huyện Duy Xuyên thường về bãi cầu Đen chiếu phim nhựa màn ảnh rộng, cả làng đi xem. Trên đường về sau khi phim kết thúc, Thơ Ròm bỗng nhiên tách ra khỏi nhóm, công khai bày tỏ: “Tao đi hái trộm nắm rau lang về luộc, đói quá!”. Thơ Ròm bước xuống vực đất cao ngay vạt rau lang bên đường, hái một nắm nhỏ mang về.

Ngày đó nhà tôi nghèo, nghèo lắm, cơm khoai sắn qua ngày, nhưng có những gia đình trong làng còn nghèo hơn thế nữa. Nhà Thơ Ròm không đủ khoai sắn nên ngày chỉ ăn hai bữa, bữa tối là vào xế chiều, cơm khoai sắn không no cái bụng trẻ con thời ấy. Người trong làng gặp nhau ngoài việc hỏi chuyện đồng áng, họ còn hỏi: nhà anh ăn mấy bữa?

Tôi và anh tôi chứng kiến cảnh Thơ Ròm, về nhà day dứt khôn nguôi lời than thở “đói quá!” của nó. Anh tôi xót xa cho gia đình nó, cũng là nỗi xót xa cho vùng quê nghèo khốn khó bên dòng sông Thu hiền hòa, chở theo bao kỉ niệm thời thơ bé.

BAOTREONLINE_TINTUC_TDP_muakhoailang2-03

Vợ chồng ông Hôn – ông bà nội Thơ Ròm làm nghề te tép. Cả đời ông chỉ duy nhất một nghề ấy, có lẽ ông yêu cảnh đắm mình nơi sông nước, nắng gió quê nghèo thấm đẫm thịt da ông. Ngày nào cũng như ngày nào, ông vác cái te đi trước, bà Hôn thủng thỉnh tay ôm cái rổ lớn ngang hông đi sau. Hình ảnh đó tạo lối mòn trong đôi mắt tôi hai lần mỗi ngày sáng và trưa. Đến bây giờ trong đôi mắt này vẫn còn chằng chịt, chồng chéo những đường ngang lối dọc, những thân phận miên trường quạnh vắng giữa nhân gian nắng đã phai màu, gió đời bạc phếch, phôi phai.

Bây giờ tôi ít khi nhìn thấy những làn da sạm nắng nhăn nheo lớp lớp xếp chồng như thế. Hình như ông bà Hôn hiếm khi bỏ nghề đi te dù một ngày, trừ những lần ốm đau, nhưng rất hiếm. Có lẽ vì nhúm tép mọn trong cái rổ tre kia chỉ đủ đổi gạo, chè, mắm, muối dùng trong một ngày thôi.

Rồi một ngày hình ảnh thủy chung trọn đời ấy của ông bà Hôn không còn vẽ lên con đường quê hiền hòa, mưa bùn nắng bụi, hằn những dấu chân bò dưới dấu chân trẻ thơ nữa. Ông bà lần lượt ra đi, gia tài để lại duy nhất một cái te, đầu cáng treo cái vịt nang không còn lành lặn, đã theo ông suốt một đời mưa nắng.

Chuyện Thơ Ròm và Thê Nhang xin khép lại ở đây, nhưng củ khoai lang tím đỏ và nắm rau lang trộm hái ven đường vẫn tím hồng xanh đỏ lòng tôi, như nắng mưa bảy sắc cầu vồng vắt ngang góc trời thơ bé, làm nhịp cầu muôn thuở, nối đôi bờ khối óc với con tim.

Gạo Quê

d91954f7-f30a-4469-b078-7980db70988d