Tháng tư, về Trường Sơn

Chiếc Trooper lầm lũi xuyên mưa rừng. Tháng tư, mưa mới giăng giăng như tấm khăn bạc mềm mại ôm những vòm lá biếc, đủ nhuộm ẩm bụi đường khoác cho chuyến xe lấm láp gợi cảm giác như hành quân vào tuyến lửa một thời. Thoáng cái, nắng lại bừng lên bất chợt. Giữa trùng điệp núi rừng, câu chuyện của những người lính già cứ miên man theo cảm xúc về dồn dập, giản dị mà hào hùng, có lúc như nhuốm màu huyền thoại…

Tay Nguyen 04.10 014

Đèo Đá Đẽo (Quảng Bình), một trong những trọng điểm ác liệt thời chiến tranh

“Muôn chuyện do duyên” – chỉ có thể giải thích như vậy cho những lữ khách trên chuyến xe dọc tuyến đường Hồ Chí Minh từ Hòa Lạc vào Tây Nguyên giữa những ngày tháng tư lịch sử, khi cả nước nô nức kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam. Hai cựu binh: ông Phạm Mạnh Việt – Phó chánh Văn phòng Ủy ban ATGT Quốc gia và ông Khổng Minh Thặng – Trưởng phòng Trị sự Báo Bạn Đường, đều từng cầm súng chống Mỹ và cùng là thương binh.

Anh Đức – “cán bộ đường lối” và tôi thì thuộc lớp hậu sinh, chào đời khi cuộc chiến đã bước vào giai đoạn cuối. Khoảng cách tuổi tác khiến chúng tôi chỉ biết cười trừ với những lời vừa bộc bạch vừa chiêm nghiệm và cảm nhận từ đáy lòng của ông Việt: “Tương lai thuộc về các cháu. Chú và chú Thặng sắp về úp mặt vào sông quê rồi”. Ông không nói hết, nhưng tôi hiểu lần này không chỉ là một chuyến về thăm chiến trường xưa mà còn là hành trình ngược thời gian của một đời người, qua khát vọng thanh xuân, qua lửa đạn một thời, với những ký ức vẹn nguyên và cả những nỗi niềm dang dở…

Con đường huyền thoại uốn mình bên những sườn núi ngút ngàn rừng non và những thửa ruộng mượt mà ngô lúa. Đường Hồ Chí Minh đã thực sự mang lại nguồn sinh lực cho cả dải đất mênh mông phía Tây hình chữ S thân yêu. Sự đổi thay có thể cảm nhận từng ngày. Không còn là “con đường đẹp hoang vu” như một vài năm trước, với những quãng chạy xe vài chục cây số chẳng thấy bóng người. Đường đã đông xe hơn, cư dân làng mạc, chợ búa ven đường sầm uất hơn. Hệ thống biển báo, vạch sơn, lan can phòng hộ tương đối hoàn thiện và lực lượng CSGT, TTGT thường xuyên tuần tra kiểm soát kết hợp cắm chốt bảo đảm ATGT khiến lữ khách không còn cảm giác lo lắng khi “lọt thỏm” giữa đại ngàn.

Sự ái ngại nhiều nhất có lẽ vẫn là tình trạng sụt trượt trong mùa mưa, nặng nhất tại các đoạn đường Hồ Chí Minh qua địa phận Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam. Chiếc xe “dã chiến” không ít lần phải gằn máy leo qua đống đất đá chưa kịp san gạt hết trên mặt đường, ngước lên mấy tảng đá trên cao lăm le sạt tiếp mà “hồi hộp”. Tại Kon Tum, một đoạn đường dài còn nguyên dấu tích trận lũ cuối năm trước, với dãy hộ lan méo mó và vô số gốc cây lỏng chỏng bên đường…

Mỗi khi xe qua đoạn đường xấu, tôi lại thấy những nếp nhăn có phần khắc khổ trên khuôn mặt hai người lính già giãn dần theo từng cái xóc nảy người, và ánh mắt họ chợt long lanh tươi trẻ. Mỗi kilômét xe qua lại đưa họ về gần hơn với những địa danh mà họ từng gắn bó trong những năm tháng khốc liệt song rất đỗi hào hùng của dân tộc: ngã ba Đồng Lộc, đèo Đá Đẽo, nghĩa trang Trường Sơn, Khe Sanh, Đăk Tô – Tân Cảnh…

Tay Nguyen 04.10 036

Sống lại những giây phút hào hùng khi cả nước hành quân ra trận

Ông Thặng từng là pháo thủ cối 120 ly Sư đoàn 308 tham gia chiến dịch Quảng Trị 1972. Ông Việt là lính của Sư đoàn 324, từng ôm bộc phá đánh cứ điểm Đăk Pet (Kon Tum) và bị thương trong chiến dịch Thượng Đức (Quảng Nam). Được làm việc cùng hai ông cả chục năm, nhiều chuyến công tác qua miền Trung mấy chú cháu đều ghé nghĩa trang Trường Sơn thắp hương, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được về đây đúng dịp tháng tư đầy ý nghĩa. Từng đoàn xe khách nối đuôi nhau vào nghĩa trang, đủ cả cựu binh, cán bộ, học sinh… đến tri ân những người nằm xuống mãi mãi tuổi thanh xuân. Khói hương ngan ngát ấm một vùng đất lạnh.
Điểm dừng chân tiếp theo là huyện Đăk Glei (Kon Tum). Mặc dù bị “đột kích” trong giờ làm việc, các anh chị ở Huyện ủy vẫn chu đáo đón tiếp chúng tôi. Anh Lai – Phó ban Tuyên giáo Huyện ủy Đăk Glei nhiệt tình dẫn chúng tôi thăm di tích cứ điểm Đăk Pet. Ông Việt kể: “Hồi ấy mình được giao ôm bộc phá vào đánh lô cốt, đã xác định chín chết một sống, nhưng may mắn có một đơn vị khác đã tấn công ngay trước đó, địch rút chạy. Lát nữa thế nào cũng phải qua nghĩa trang liệt sỹ huyện thắp hương, tri ân đồng đội đã hy sinh để mình được sống”.

Cứ điểm Đăk Pet từ năm 1969 được ngụy quân nâng cấp thành chi khu quân sự, do Tiểu đoàn 88 Biệt động biên phòng khét tiếng thuộc Liên đoàn 22 Biệt động quân đóng giữ. Ngoài ra, chúng còn tổ chức 1 trung đội bảo an, 1 trung đội cảnh vệ, 1 trung đội tình báo, 8 trung đội nghĩa quân và 300 dân vệ. Cứ điểm này gồm 18 chốt với hệ thống hầm ngầm, lô cốt, ụ súng, hỏa lực bố trí liên hoàn trên các mỏm đồi bát úp, trọng tâm là một sân bay dã chiến và một bãi đáp trực thăng…

Tại đây chiến sự đã diễn ra ác liệt, tiêu biểu là trận quân ta tập kích đồn dân vệ Đăk Pet đêm 31/1/1970, diệt 80 tên, thu giữ và phá hủy nhiều quân trang quân dụng. Ngày 8/4/1972, các lực lượng của ta đồng loạt tập kích Đăk Pet do 9 đại đội ngụy đóng giữ. Trận đánh bao vây kéo dài 2 tháng, tuy chưa diệt được hoàn toàn cụm cứ điểm này, song đã góp phần quan trọng cho chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh. Giữa tháng 5/1974, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tiêu diệt cứ điểm Đăk Pet, thông hành lang chiến lược Trường Sơn, huy động pháo binh và cả xe tăng vào trận, giải phóng hoàn toàn huyện Đăk Glei vào ngày 16/5/1974. Ông Phạm Mạnh Việt đã tham gia trận đánh này…

Chiến trường xưa giờ chỉ còn vài dấu tích, lô cốt chìm trong dây leo và bụi rậm. Ngay trên nền cứ điểm cũ, giờ đây là một công trình khang trang: trụ sở Điện lực huyện Đăk Glei. Một đoạn đường Hồ Chí Minh (QL14) thênh thang trên nền sân bay dã chiến của ngụy ngày trước, mang tên đường Hùng Vương qua trung tâm huyện lỵ. Nghĩa trang liệt sỹ của huyện nằm trên đồi thông ven đường này. Chúng tôi leo 170 bậc đá giữa cái nắng chính ngọ xối bỏng. 24 hàng mộ, mỗi hàng 16 ngôi, phần lớn vô danh. Cái giá phải trả cho ngày toàn thắng thật không sao đong đếm nổi. Các liệt sỹ nằm đây giữa thông reo bốn mùa, trông xuống thị trấn, nhà cửa, đường sá khang trang và những sườn đồi thoai thoải xanh rờn bạch đàn, keo tai tượng… hẳn cũng ngậm cười.

Tay Nguyen 04.10 052

2 cựu binh tại nghĩa trang liệt sỹ Đăk Glei

Ông Việt và ông Thặng chắp tay đứng lặng hồi lâu giữa nắng. Đã ít nhiều “quen” sau mấy lần chứng kiến ông Thặng thành kính dâng hương tưởng niệm đồng đội tại Thành cổ Quảng Trị, tôi vẫn không khỏi xúc động trước tình cảm chân thành của các cựu binh. Quãng đời lính của họ có thể chỉ vài năm, nhưng dường như trong sâu thẳm trái tim họ, khúc quân hành mãi mãi ngân vang. Tôi không dám gọi, dù không khỏi ái ngại khi nhìn mồ hôi tuôn thành dòng trên hai vầng trán hằn sâu nếp nhăn lòa xòa những sợi tóc muối tiêu. Hai người lính già như đang trải lòng cùng đồng đội đã hy sinh. Rồi họ nói chuyện với nhau mà như mỗi người tự nói cho chính mình: “Có về đây mới thấy mọi toan tính bon chen thật vô nghĩa, mới thực sự thấy mình được cuộc đời cho quá nhiều so với đồng đội, và thấy càng muốn sống tốt hơn…”.

Xe lại lăn bánh. Càng đi, hai cựu binh càng như trẻ trung, sôi nổi hơn. Kỷ niệm về dồn dập khiến chuyện rôm rả không lúc nào ngơi, từ chuyện hành quân, những trận đánh cho đến ký ức vụng dại mối tình đầu… Đã rất nhiều lần ngồi chung xe với ông Thặng và ông Việt, tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên bởi nét hồn hậu và khoáng đạt của những người một thời áo lính, vốn hàng ngày khá kiệm lời, thường chỉ lặng lẽ làm tròn công việc được giao một cách đầy trách nhiệm…

Về đến Quảng Nam, chúng tôi ghé Huyện đội Đại Lộc. Trung tá Lại – Huyện đội phó và Thượng úy Hương rất niềm nở, nhiệt tình ủng hộ nguyện vọng thăm chiến trường xưa. Các anh đưa chúng tôi về xã Đại Đồng – trung tâm của mặt trận Thượng Đức năm xưa, nổi tiếng với các cao điểm 700, 1062 và đồi Yên Ngựa, tiền đồn chiến lược bảo vệ căn cứ quân sự và phi trường Đà Nẵng của ngụy. Anh Trung – Phó chủ tịch UBND xã và các đồng chí ở xã đội, dù lần đầu gặp mặt, hồ hởi đón chúng tôi như người nhà. Dường như đó là nét đặc trưng của những người gắn bó cả đời với quê hương xứ Quảng.

Cứ điểm Thượng Đức do Mỹ xây dựng với hệ thống giao thông hào liên hoàn cùng 35 lô cốt, nhiều nhà hầm và hầm ngầm. Khu thông tin, chỉ huy pháo binh, bệnh viện, kho… đều nằm sâu trong lòng đất. Địch bố trí tại đây Tiểu đoàn 79 Biệt động quân biên phòng, 2 đại đội địa phương quân, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 1 trung đội viễn thám và 16 trung đội nghĩa quân. Khi chiến dịch diễn ra, địch tăng cường cho Thượng Đức các lữ đoàn nhảy dù số 1 và số 3; sau đó điều động 1 chiến đoàn đặc biệt gồm Trung đoàn 22 bộ binh và Thiết đoàn 11 kỵ binh tham chiến. Quân ta tấn công Thượng Đức với các đơn vị thuộc Sư đoàn 324, 304, một số đơn vị địa phương, pháo và xe tăng, nổ súng từ ngày 29/7/1974. Suốt gần 4 tháng, ta và địch quần thảo ác liệt, các cao điểm bị giành đi giật lại nhiều lần và hai bên cùng tổn thất nặng. Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, tại Thượng Đức, chỉ tính riêng các đơn vị nhảy dù – lực lượng tinh nhuệ nhất – đã bị tiêu diệt hơn 50% quân số.

Tay Nguyen 04.10 042

Cựu binh Phạm Mạnh Việt leo núi thăm chiến trường xưa

Ông Phạm Mạnh Việt bị thương khi cùng những người lính Sư đoàn 324 đánh đồi 700, dính nhiều mảnh cối, cùng 6 chiến sĩ nữa lánh tạm trong một hang nhỏ suốt mấy ngày sát nách địch. Ông kể lại mà xuýt xoa: “May mà rừng rậm, địch không phát hiện. Mới đó đã gần 40 năm, chuyện đời như giấc mơ”. Anh Hà ở Xã đội Đại Đồng hướng dẫn cho xe của chúng tôi thận trọng bò trên con đường đất gập ghềnh quanh co hồi lâu, rồi chỉ vào dãy núi um tùm cao ngất: “Đồi 700 ở trên đó”. Ông Việt bảo: “Mình sẽ leo lên đó”. Tôi đã leo núi nhiều lần nên chẳng ngại, nhưng vẫn gàn ông vì biết sức khỏe ông không được tốt, hơn nữa khu vực ngày trước giao tranh ác liệt, bom mìn sót lại biết thế nào. Nhưng ông vẫn quyết tâm và rồi chính ông là người phải đợi tôi trên lối mòn rậm rạp đầy gai góc và muỗi vắt, dốc ngược lên hun hút. Dường như chiến trường xưa làm ông trẻ khỏe hẳn ra, cứ leo phăm phăm lên dốc đứng phủ đầy lá mục và cỏ tranh sắc lẻm. Tôi gắng sức theo kịp ông, mồ hôi nhễ nhại, vừa nghỉ lấy hơi thì – “oành” – một tiếng nổ lớn rất đanh làm hai thầy trò giật bắn. Anh Hà dừng tay rựa phạt cây mở lối, ngoái lại cười: “Họ nổ mìn phá đá thôi mà”. Hú vía!

Rừng càng vào sâu càng rậm, chốc chốc lại một cánh chim vụt lên từ bụi cây, một chú sóc lao vút ngang đầu. Anh Hà kể: “Vùng này còn nhiều chim thú lắm, có cả heo rừng ra phá rẫy của bà con. Hồi trước có con hổ già thọt chân và nghễnh ngãng vì trúng đạn pháo – dân gọi là “hổ điếc” – vẫn mò ra ăn xác chết sau mỗi trận chiến, sau giải phóng mấy năm vẫn thấy nó, rồi không biết chết già ở xó rừng nào”. Câu chuyện “dọa ma” của anh kể trong tiếng chim “bắt cô trói cột” văng vẳng bên ngọn thác tên là Bãi Nạy tung bọt trắng, thoảng chút thê lương.

Tay Nguyen 04.10 074

Khấn đồng đội trên đồi 700

Gần 3 giờ leo núi mới đến đỉnh 700. Cây cối và dây leo chằng chịt phủ kín những công sự cũ cùng hố đạn pháo. Đây đó vẫn còn mấy mảnh vải dù, mảnh bao tải cát, vài chiếc giày bộ đội đã mục nát… Ông Việt lại thành kính thắp hương và đứng khấn rất lâu. Tôi tựa gốc cây chợp mắt, choàng tỉnh dậy vẫn thấy ông đứng chắp tay cúi đầu. Rồi ông mò mẫm gạt bụi rậm mong tìm cái hang ngày nào “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nhưng mãi mà không thấy.

Tiếng chim rừng lại cất lên, lần này rất lạ, nghe như “bóp mà không bóp, bóp mà không bóp”… Người dẫn đường vui tính lại kể chuyện với nụ cười ý nhị. Chuyện rằng: Xưa có đôi nam nữ mới lớn vào rừng kiếm củi rồi xuống suối tắm. Lần đầu thấy thiếu nữ ngây thơ khỏa thân trong làn nước, chàng trai sững sờ hồi lâu rồi chạm nhẹ vào cô gái. Không ngờ cô gái xấu hổ bỏ chạy, dọa về mách mẹ. Chàng trai hối hận, không dám về làng, cứ đi mãi vào rừng sâu, rồi hóa thành loài chim có tiếng kêu da diết, đượm buồn, như thanh minh cho chút rung động vụng dại đầu đời…

Tay Nguyen 04.10 057

Anh Hà (trái) ở Xã đội Đại Đồng với những câu chuyện huyền thoại về Trường Sơn bất tận

Đường ra nắng ấm tưng bừng. Lại những con đèo ngoằn nghoèo hai bên núi già cao vút, những địa danh lạ đã thành quen vẫn gợi lên hào khí ngày nào cả nước ra trận. Trường Sơn mãi hùng vĩ và bí ẩn như sức mạnh vô song của dân tộc không cam chịu sống quỳ, sẽ còn cuốn hút muôn vạn bước chân tìm về…

Xuống xe, ông Việt nắm tay tôi thật chặt: “Cảm ơn cháu đã sát cánh cùng lính già”. Một chút bùi ngùi khiến tôi không kịp đáp lời ông, dù tôi muốn nói rằng chính giới trẻ chúng tôi phải cảm ơn những người lính như ông Việt, ông Thặng… Không chỉ vì những đóng góp của họ trong chiến tranh và cho ngày toàn thắng, mà cả vì những bài học không lời song vô cùng thấm thía về lẽ sống ở đời.

Bài và ảnh: Nguyễn Việt