Tả Xáy – bản khát nước ở xã mưa nhiều

Nhọc nhằn đường lên bản

Dẫn đường cho đoàn thiện nguyện lên bản Tả Xáy là 2 sĩ quan chuyên nghiệp của Đồn Biên phòng Xuân Trường (Đồn 147, Bộ đội Biên phòng Cao Bằng) cùng họ và cùng tên. Thiếu tá Lê Bá Hùng, quê ở Quỳ Hợp, Nghệ An, đã công tác 22 năm ở huyện vùng biên Bảo Lạc này. Còn Thiếu tá Lê Mạnh Hùng, gốc Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, thì vừa lên nhận công tác tuần trước.

Thiếu tá Lê Bá Hùng cho biết, Đồn 147 phụ trách địa bàn 2 xã Xuân Trường và Khánh Xuân, đều nằm sâu trong vùng núi đá hiểm trở. Trong đó, Xuân Trường là xã nằm ở điểm đầu phía Đông của huyện Bảo Lạc, giáp với Trung Quốc, cách thị trấn huyện lỵ hơn 20 km đèo dốc gập ghềnh.

Núi Bó Héc, núi Cô Péc, núi Đin Đeng, núi Lắm Côm, núi Lẳm Củm, núi Phia Phoong, núi Pờ Cả Tản… núi sát núi như thiên la địa võng, khiến đời sống của bà con Tày, Nùng, Mông và Dao quanh năm cơ cực, chìm lấp giữa sương xám mây mù. Cùng xã đấy, mà đi từ từ bản này sang bản khác mất nửa ngày là chuyện thường tình, thậm chí từ nhà này sang nhà kia cùng một bản cũng phải leo núi toát mồ hôi, bởi bà con quen sống rải rác mỗi sườn núi chỉ một hai nóc nhà.

Đèo Mẻ Pja

Tháng trước, khi nhóm tiền trạm lên “đặt vấn đề” tặng quà bản nghèo, anh em Biên phòng đã “gãi đầu” vì cả 18 thôn bản: Thua Tổng, Bản Thán, Nà Đoỏng, Tả Xáy, Thiêng Lầu, Nà Chộc, Bản Chuồng, Phia Phoong, Lũng Rạc, Lũng Pèo, Phìn Sảng, Mù Chảng, Cao Bắc, Cốc Kệch, Thẳm Tôm, Lũng Pù, Xà Phìn, Lũng Mật, chỗ nào cũng khó khăn cả. “Bình chọn” mãi, mới chốt được 3 bản “dẫn đầu” về nghèo khó là Tả Xáy, Lũng Pèo và Phìn Sảng.

Ngay khi nhóm Vầng Trăng Nhỏ phát động chương trình “ÁO ẤM CHO EM – 2019”, các tình nguyện viên của Cô Son đã tích cực tham gia cùng đội bạn quyên góp quà tặng 130 em nhỏ (50 bé mầm non và 80 em tiểu học) đang theo học tại 3 điểm trường cắm bản, thuộc Trường Tiểu học và Trường Mầm non xã Xuân Trường.

Cùng ngồi xe xuyên đêm lên Bảo Lạc, 18 thành viên đoàn thiện nguyện được chia thành 3 nhóm, tỏa về 3 bản nghèo. Tình nguyện viên của Cô Son được phân công mang quà lên Tả Xáy, bản người Mông xa xôi heo hút nhất.

Các mế, các chị cõng giúp những phần quà nặng nhất

Lối mòn rẽ vào Tả Xáy nằm bên chân con đèo Mẻ Pja nổi tiếng (còn gọi là Khau Cốc Trà) quanh co khúc khuỷu, nguy hiểm nhất vùng Đông Bắc. Chỉ dài khoảng 2,5 km, cung đường này có tới 14 khúc cua gắt, thách thức bất cứ tay lái cứng nào. Nghe nói đường đèo Mẻ Pja được mở từ thời Pháp, nhưng lúc đó chỉ dành cho ngựa thồ, bề ngang mặt đường chưa đến 2 gang tay. Tuyến đường nhựa qua con đèo này mới được hoàn thành năm 2011, sau hơn 2 năm thi công vất vả, giờ rộng khoảng 5 m tính cả lề đường, trở thành một trong những “cung phượt” mê đắm.

Đứng dưới chân đèo Mẻ Pja nhìn lên cũng đủ “chóng mặt”, nhưng còn “ngao ngán” hơn với lối về bản Tả Xáy cheo leo. Ngồi xe máy phóng qua đèo được, chứ lên bản thì cuốc bộ còn trầy trật. Lối mòn đang được bà con nới rộng đôi chút men sườn núi, vẫn hẹp lắm, người đi chẳng thể sóng đôi. Đất mới cuốc tơi xốp lún ngập giày, gặp cơn mưa phùn cuối đông, nhiều chỗ thành “cháo đặc”.

Cũng may có các mế, các chị trong bản ra cõng hàng giúp, không thì 6 “dân cày đường nhựa” có khóc bằng tiếng Mông cũng chịu bó tay. Chỉ đi người không đã thở hồng hộc. Bùn đất bám giày dẻo quánh, mỗi bên chân nặng thêm cả kg, cứ phải lết từng bước.

Sương đọng trắng cành lá bên sườn núi suốt ngày đêm

Quà chuẩn bị được khá nhiều, đóng gói riêng cẩn thận cho từng nhóm trẻ theo độ tuổi từ Mầm non, lớp 1 tới lớp 5. Mỗi cháu sẽ được “trang bị” áo khoác mới cùng quần áo đông xuân, ủng, mũ len, găng tay, tất, áo mưa, khăn mặt, balo đi học, cả bánh kẹo và sữa đặc nữa. Các cháu Tiểu học có thêm đồ dùng học tập, còn Mầm non thì có đồ chơi mới và truyện tranh.

Chị em bản Tả Xáy cõng đồ gập lưng, cười tươi lắm vì con cháu được quà, nhưng vất vả quá, gùi nặng trĩu còn phải lo che mưa. Ái ngại hỏi thăm xem thanh niên trai tráng đâu cả mà “dồn gánh” hết lên vai phụ nữ? Thiếu tá Lê Mạnh Hùng đáp: “Em mới lên, nghe nói bản nghèo quá, phần lớn đàn ông phải đi xa kiếm việc làm thuê, ở nhà còn toàn chị em thôi”.

Được biết, theo quy hoạch của huyện Bảo Lạc, xã Xuân Trường được coi là trọng điểm về sản xuất cây lương thực. Huyện chủ trương tập trung phát triển lúa nếp hương đặc sản vùng này trở thành hàng hóa, xã cũng đang vận động bà con mở rộng diện tích trồng cây lê vàng, lê xanh, cây tỏi thơm và trồng rau sạch để cung cấp ra thị trường, tăng thu nhập. Tuy nhiên, đó là “chuyện của vài hộ dưới chân núi”. Còn trên những đỉnh núi quanh năm mây sương mờ mịt, những bản như Tả Xáy lọt thỏm giữa vùng núi đá, thiếu đất sản xuất, những mái tranh nghèo vẫn lay lắt dựa vào vách đá tai mèo, cuộc sống nhọc nhằn cay cực lắm.

Một mái tranh nghèo bên đường Tả Xáy

Theo Trưởng bản Tả Xáy, ông Thào A Quả, bản có 44 hộ người dân tộc Mông, tổng cộng 228 nhân khẩu. Sống rải rác trên các đỉnh núi, bà con ở Tả Xáy chỉ trồng được cây ngô, tận dụng từng khoảnh đất nhỏ bên sườn núi chi chít đá tai mèo sắc nhọn. Bao đời nay, món ăn chủ đạo của người Tả Xáy chỉ có ngô thay cơm, kèm với bí xanh bí đỏ mà nhà nào trong bản cũng chất lổn nhổn góc nhà.

Không đói đã là may lắm. Bởi gieo hạt ngô trên núi rồi phó mặc cho trời vậy thôi, chẳng tưới tắm bao giờ, nên năng suất rất bấp bênh. Lý do: nước cho người dùng chẳng đủ, lấy đâu ra nước tưới cây.

Ông Thào A Quả chỉ vào cái hố nước nhỏ xíu, đến rửa chân được cũng khó, chép miệng: “228 người bản mình chỉ có nguồn nước này thôi. Nước đùn từ dưới đất lên đấy, lâu lâu lại cạn mất”. Như một minh chứng buồn cho lời Trưởng bản, ngay cạnh hố, cái bể xi măng khá to được xây để chứa nước dùng dần, nhưng đáy bể đầy đất, cây dại cỏ hoang mọc kín, “như chưa từng dón nước”.

228 người trong bản phải dùng chung nguồn nước nhỏ xíu này 

Trên địa bàn xã Xuân Trường có hồ Thốm Lốm cùng các dòng suối Cốc Tả, Piêng Pán, Tả Nọi, nhưng ở xa bản lắm. Quanh bản Tả Xáy, cây ngô sống được hay không, chỉ trông vào mưa. Vùng này thường mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm là 21,0C. Độ ẩm không khí bình quân 82,5 %. Lượng mưa hàng năm khoảng 1.500 mm… Nhưng ai mà biết, cơn mưa sẽ trút xuống núi nào?! Nên Tả Xáy vẫn khát. Lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa, lắm khi mưa chẳng tưới được ngô mà còn khiến bà con đi lại vất vả hơn, thậm chí gây thiệt hại cả mùa màng và đe dọa tính mạng bà con, với những trận lũ quét bất ngờ.

Nghe nói, đã có những kế hoạch khoan thăm dò tìm thêm nguồn nước, nhưng chưa lần nào thành công. Còn bắc đường ống vượt núi đưa nước về bản, chắc cũng khó ngang “lên trời”, vì quá xa xôi cách trở, chi phí lớn lắm, mà có tiền chưa chắc đã làm nổi. Thế nên nhà nào ở bản Tả Xáy cũng phải đào hố, quây bạt… tìm mọi cách chứa nước mưa, song chẳng thể đủ dùng.

Thiếu nước trầm trọng, việc tắm giặt trở thành xa xỉ. Lũ trẻ vùng cao mắt tròn đáng yêu, mà cháu nào cũng lấm lem hôi hám đến xót xa. Được cái, bọn trẻ ngoan ngoãn lễ phép vô cùng. Công của 2 cô giáo Tiểu học, 1 cô giáo Mầm non cắm bản cùng các chú Biên phòng đây mà. Ở Tả Xáy đã có điểm trường kiên cố, cũng là ngôi nhà duy nhất được xây bằng gạch, khang trang nhất bản, nơi 17 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 và 18 cháu Mầm non hàng ngày được các cô giáo kèm cặp.

Bể xây chứa nước nhưng chỉ toàn lá mục, cỏ dại

Cô giáo La Tuyết Cương, người dân tộc Nùng địa phương, phụ trách điểm trường Tiểu học ở Tả Xáy, tâm sự: “Khu vực bản nằm ở độ cao trên dưới 1.000 m so với mực nước biển, địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi hiểm trở, phần nhiều là núi đá vôi dốc đứng, nên duy trì được trường lớp ở đây là cả một kỳ công. Chúng em không ngại vất vả, chỉ thương bọn trẻ chân trần áo mỏng đến lớp. Mùa đông trên này lạnh thấu xương, nhiều ngày cô trò phải mang theo củi vào lớp, đốt đống lửa sưởi mới học được”.

Thiếu tá Lê Bá Hùng tiếp lời: “Ở đây quanh năm mây mù. Mùa hè cũng chỉ có nắng đến tầm 4 giờ chiều là hết, đêm ngủ vẫn phải đắp chăn bông. Còn mùa đông, gió Bắc tràn về cộng với hơi giá túa ra từ núi đá, mặc bao nhiêu áo vẫn run lẩy bẩy. Nhiều lần, đồn Biên phòng phải xuất chăn bông dự trữ tặng bà con chống rét, vận động cán bộ chiến sĩ nhường lại vỏ chăn cho những gia đình nghèo nhất.”

Không chỉ nhường chăn sẻ áo, những người lính mang quân hàm xanh còn đang cưu mang 2 cháu Vàng A Dè và Vàng A Hùng, cùng 6 tuổi, được ăn ở tại đồn, do gia cảnh các cháu quá khốn quẫn. Cán bộ chiến sĩ Đồn 147 mỗi chuyến được nghỉ phép về quê, đều tranh thủ thu gom, quyên góp sách vở, quần áo cũ, mang lên cho bọn trẻ, động viên các cháu đến trường.

Lần đầu, các bé ở Tả Xáy được diện áo khoác mới, đeo balo đẹp

Hết lòng vì thế hệ tương lai của bản, nên khi có đoàn thiện nguyện lên Tả Xáy, tất cả các bé đều được diện áo mới, đi ủng mới, khoác balo mới, cháu nào cũng xách nặng túi quà, tíu tít nói cười… các cô giáo và các anh bộ đội còn vui hơn chính họ được nhận quà.

Trưởng bản Thào A Quả cũng vui lắm, hồ hởi nói: “Trẻ con bản mình lần đầu được cho bánh kẹo nhiều thế, ngon thế. Ở đây trẻ con không có quà đâu. Thỉnh thoảng được bố mẹ cho xuống chợ phiên, may ra thì có cái bánh rán thôi. Còn ở bản chỉ biết ra cây mắc coọc hái quả. Người ăn không quen thì chát lắm, nhưng trên này mắc coọc được gọi là quả lê đấy, ngày xưa ông bà đã bảo “gái Đồng Khê, lê Xuân Trường” mà… Mình bảo các cháu rồi, phải chăm đến trường, nghe lời cô giáo, sẽ được các cô chú miền xuôi mang bánh kẹo lên cho nữa”…

Buổi trưa ở Tả Xáy, mưa phùn nặng hạt hơn, trời xám xịt như sắp về đêm. Nhìn tứ bề chỉ thấy rừng hoang với những bụi xương rồng đầy gai tua tủa bám vào đá. Bâng quơ thắc mắc, sao trên này tên bản nào cũng “nghe đã thấy heo hút” mà tên xã đẹp thế? Xuân Trường – cứ như ở Nam Định miền xuôi ấy?!

Bánh ngon ghê!

Thiếu tá Lê Bá Hùng giải thích: xã mang tên Tiểu đội trưởng Xuân Trường, liệt sỹ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Xuân Trường, tên thật là Hoàng Văn Nhủng, người dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, tỉnh Hà Quảng cũ, là thành viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, từng góp công vào những trận thắng giòn giã tại Phai Khắt, Nà Ngần lịch sử. Rạng sáng 5/2/1945, quân ta tấn công đồn Đồng Mu ở huyện Bảo Lạc. Trong trận này, Tiểu đội trưởng Xuân Trường đã chiến đấu anh dũng và hy sinh. Sau khi quân Pháp rút chạy, xã Đồng Mu được giải phóng. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, xã Đồng Mu được mang tên mới là xã Xuân Trường.

Mảnh đất địa đầu linh thiêng, giàu truyền thống ấy, giờ vẫn được lớp lớp cháu con kiên gan bám trụ. Những mái tranh đơn sơ với người dân lam lũ như Tả Xáy, vẫn là “phên dậu quốc gia”, góp phần khẳng định chủ quyền Tổ quốc, dẫu hàng ngày phải chịu thiếu thốn trăm bề, thiếu từ hạt gạo, giọt nước…

Mong sẽ có thêm nhiều người cùng góp sức, để thế hệ tương lai của bản nghèo được ấm no, như ước nguyện của ông cha!

Nguyễn Việt