Qua làng người Raglai, vào nơi khô cằn khắc nghiệt nhất Việt Nam

Cả năm 2019, những cánh rừng thuộc khu vực Núi Chúa chỉ được đón 2 cơn mưa. Nghe anh bạn quen ở Phan Rang “khủng bố tinh thần” trước như vậy, nên hơi bất ngờ khi thấy màu xanh vẫn mát mắt trên những sườn núi ven biển, bao quanh 3 mặt của vịnh Vĩnh Hy (huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận).

Nghe khách trầm trồ, Nguyễn Minh Hoàng – cậu nhân viên của Vườn quốc gia Núi Chúa – cười nhỏ nhẹ giọng trai gốc Huế: “Có mưa là còn tốt đó anh. Cao điểm khô hạn ở đây là năm 2013 – 2014, hơn 2 năm liền không giọt mưa nào. Ninh Thuận được “xếp hạng” khô hạn nhất nước mình, lượng mưa trung bình năm chỉ 500 – 700 mm. Mùa mưa thường từ đầu tháng 10 đến giữa tháng 12 là hết. Mùa khô, độ ẩm có thể xuống còn 20 – 25%. Trong hơn 9 tháng mùa khô, có 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt. Cây cối phải thích nghi thôi. Nhiều lần ngỡ rừng chết khô, nhưng chỉ cần mưa xuống, mầm non lại nhú lên từ những cành đã héo quắt, cháy xém”.

Kỳ diệu là mưa hiếm, ngày nào nắng cũng đổ lửa, nhưng vài ngọn suối ở vùng này vẫn cần mẫn tuôn nước ngọt xuống Biển Đông, như suối Nước Ngọt, suối Đá, suối Nước Giếng, suối Kiền Kiền, suối Đông Nha. Đặc biệt là suối Lồ Ồ, không bao giờ cạn, kể cả đợt hơn 2 năm không mưa ấy, khi các suối nhỏ đã trơ lòng đá. Trên núi Đá Vách còn có một cái “hồ treo”, nước ngọt tồn đọng quanh năm.

Lượng nước ngọt hiếm hoi đã duy trì sự sống cho rừng, tất nhiên là chỉ những loài cây “gan góc” nhất. Ở Núi Chúa, cây găng mọc thành rừng, giữa khô cằn lá biến thành gai nhọn tua tủa, kiên gan bám trụ. Nhiều cây khác cũng đầy gai như thế, hoặc “thu mình” nhỏ hơn hẳn so với “bà con” các vùng khác. Chẳng thế mà khu vực núi Chúa nổi tiếng vì có nhiều “bonsai”, nhiều người vẫn lén vào khai thác.

Bên lối mòn lên núi, thỉnh thoảng lại bắt gặp những vết đào bới bằng cuốc xẻng, cả cũ cả mới, có chỗ to và sâu như hố bom. “Bonsai” mà khủng vậy sao? Hỏi vui vậy, Hoàng lắc đầu: “Họ đào cây Xáo tam phân anh ạ. Nghe đồn rễ cây này là “thần dược trị bách bệnh” gì đó, chữa được cả ung thư. Sách thuốc gọi là Đơn Diệp Đằng Thích, còn dân dã thì gọi cây rễ mọi”.

Tưởng rừng đặc dụng, cấm khai thác nhỉ? “Cấm chứ anh, nhưng không xuể” – Hoàng đáp – “Chia trung bình, với diện tích Vườn quốc gia Núi Chúa hiện nay, mỗi nhân viên phải phụ trách 1.000 ha. Mình tuần tra góc rừng này thì họ vào góc khác. Với nhiều người dân trong vùng, nhất là bà con người Raglai, rừng vẫn là sinh kế của họ.”

Được coi là khu vực khô cằn khắc nghiệt nhất Việt Nam, rừng Núi Chúa vẫn sở hữu hệ thực vật vô cùng phong phú, với 1.532 loài cây, bao gồm 62 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Chỉ leo một quãng cỡ hơn cây số từ chân núi, đã thấy chồn chạy ngang đường mòn. Chốc chốc, cả bầy gà rừng lại bay túa lên đám bụi rậm khi nghe tiếng chân người, kêu táo tác.

Hoàng giới thiệu: “Lưng núi thấp này chỉ có chồn, gà rừng. Các loại động vật hoang dã chủ yếu tập trung sống ở độ cao trên 700 m. Ở đây có đủ cả gấu ngựa, gấu chó, beo lửa, khỉ đuôi dài, sơn dương, nai… Tổng cộng có 84 loài thú, 163 loài chim và 83 loài bò sát lưỡng cư, trong đó 64 loài quý hiếm cần bảo tồn. Nếu may mắn, mình có thể nhìn thấy voọc Chà vá chân đen và Gà tiền mặt đỏ – 2 loài đặc hữu Đông Dương. Con voọc hay lắm anh, nó ăn được cả một số loại lá độc mà vẫn không sao, khoa học vẫn đang nghiên cứu.”

Cả “kho báu” như vậy, nên muốn bảo tồn bền vững, không gì hơn là phải hướng dẫn bà con kế sinh nhai khác, để họ trở thành người bảo vệ rừng. Được biết, Vườn quốc gia Núi Chúa đã tổ chức giao khoán bảo vệ rừng cho 111 hộ nghèo, thuộc 7 thôn, với tổng diện tích 6.198 ha. Khu vực chân núi đang được bà con Raglai trồng điều, trên chỗ cao hơn một chút thì trồng mít. Vườn quốc gia đang thử nghiệm hỗ trợ một số gia đình trồng bưởi năng suất cao, bước đầu cho kết quả tốt. Cán bộ của Vườn còn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi và sinh sản bò, dê, tạo thêm việc làm, giúp bà con dần ổn định cuộc sống.

Mục tiêu hướng đến một ngày, bà con nơi đây có thể sống mà không phụ thuộc vào tài nguyên rừng, có lẽ còn xa lắm. Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức hạn chế của phần lớn bà con dân tộc thiểu số. Đưa được bà con xuống núi đã là một thành công đáng kể. Xưa nay, người Raglai quen sống ở lưng núi. Họ tránh dựng nhà dưới thung lũng, cho rằng đó là lối đi của ma quỷ, còn sống lưng những quả đồi là đường đi của các thần.

Người Raglai bao đời vốn chỉ quen cầm “chà gạc” vào rừng lấy củi, chặt cây gậy chọc lỗ tra hạt gieo lúa nương, đến khi thu hoạch thì tuốt thóc bằng tay. Ngày trước, họ chăn nuôi gia súc gia cầm cũng chủ yếu chỉ dùng cho những dịp cúng lễ, mãi sau này mới biết dùng trâu bò làm sức kéo, lấy gà vịt làm hàng hóa trao đổi. Cái nghèo vẫn đeo đẳng theo nhiều người.

Ở thôn Cầu Gãy ngay chân núi, trên lối lên đỉnh Đá Đỏ, nhà nước đã xây nhà cho tất cả các gia đình. Nhưng ngoài ngôi nhà nhỏ đó, nhiều hộ dân chẳng có vật dụng nào đáng giá, cũng như không biết nghề gì. Vẫn đang có những người như bà Cao Thị Xanh, không biết chữ, không biết mình bao nhiêu tuổi, lầm lũi bêu nắng bới rác, nhặt nhạnh chai lọ, kiếm sống qua ngày. Ngộ cái là cơm có thể thiếu, chứ thuốc lá thì ngày nào bà Xanh cũng phải hút hết cả bao. Nhiều phụ nữ Raglai hàng ngày cũng hút thứ thuốc lá rẻ tiền, khét lẹt, như một “truyền thống”.

Theo Nguyễn Minh Hoàng, vẫn còn khá nhiều người Raglai ở đây không rành tiếng Kinh, nói họ không hiểu, nên muốn giúp bà con, đưa họ tham gia hướng dẫn khách du lịch thăm rừng, không phải người nào cũng làm được. Một trong những trường hợp may mắn “đạt tiêu chuẩn” là Mấu Văn Hường, được tham gia tour, nhưng chủ yếu cũng chỉ phụ trách chuyển đồ, chuẩn bị bữa ăn cho khách.

30 tuổi, Mấu Văn Hường có 3 đứa con, đứa lớn 12, đứa nhỏ nhất mới lên 3. Hỏi trêu anh chàng, người Raglai theo mẫu hệ, hồi trước có phải “ngồi im cho vợ đến bắt” không? Hường cười bẽn lẽn: “Có ngồi im mà, nhưng mình cũng thích người ta lấy mình. Trước khi cưới, mình và vợ còn “ngủ thảo” nữa đấy”.

“Ngủ thảo” là tục lệ dành cho các chàng trai, cô gái Raglai đang tìm hiểu nhau để tiến tới hôn nhân. Đôi trai gái có thể tâm tình nhiều đêm, từ lúc ưng nhau cho tới ngày cưới. Không chỉ giúp hiểu nhau, để sau này cuộc sống vợ chồng hòa thuận, “ngủ thảo” còn là “thử thách bản lĩnh” của đôi trẻ, không được “ăn cơm trước kẻng”. Luật tục Raglai quy định, đôi nào “vi phạm” sẽ phải làm lễ “tẩy uế”, xin thần linh, tổ tiên không trừng phạt. Trong lúc cầu khấn, người ta sẽ lấy đất trong tổ mối hòa với nước sạch, vẩy lên đầu, xoa lên người “có tội”…

Chọc Hường chút, thế hồi đó vợ chồng cậu “có tội” hay là “vô tội”? Hỏi một đằng, được trả lời một nẻo: “Ngày xưa cặp trai gái nào “có tội” thì đám cưới chỉ được tổ chức trong phạm vi gia đình, không được mời khách, không được đàn hát nhảy múa gì hết… Giờ thì không ai “phạt” thế nữa”.

Nói đến đàn, lại nhớ ca khúc “Giấc mơ Chapi” nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Tiến, nên hỏi Mấu Văn Hường có biết chơi đàn Chapi không? Cậu ta thật thà: “Không biết đâu. Cả thôn Cầu Gãy mình toàn người Raglai đấy, mà không nhà nào còn đàn Chapi cả”. Buồn thế, cuộc mưu sinh khắc nghiệt, truyền thống mai một dần, âu cũng khó tránh…

Nguyễn Minh Hoàng cho biết, hiện Vườn quốc gia Núi Chúa đang phối hợp với chính quyền, các đoàn thể địa phương thực hiện một số mô hình phát triển sinh kế bền vững kết hợp phát huy văn hóa truyền thống người Raglai ở thôn Cầu Gãy, như thành lập tổ múa Mã La phục vụ du khách. Theo hướng này, có thể hy vọng sắp tới tiếng đàn Chapi sẽ “trở lại” với người Raglai vùng Núi Chúa.

Trước mắt, giữ được múa Mã La cũng mừng rồi. Mã La là bộ chiêng rất quý đối với người Raglai, là “nhạc cụ thiêng” có thể giao tiếp với thần linh. Đúng truyền thống, một bộ Mã La phải có 5 chiếc: Char Ana – chiếc Mã La mẹ – to nhất và có âm trầm nhất. Tiếp đến Mã La cha – Char Ato, rồi đến Mã La con gái lớn – Char Matóa, rồi Mã La con gái thứ – Char Dướp, nhỏ nhất là Mã La con gái út – Char Pen. Cơ bản là vậy, nhưng nhiều trường hợp lễ hội, số lượng một bộ Mã La có thể 7 hoặc 9 chiếc, có nơi như ở huyện Thuận Nam (tỉnh Ninh Thuận) người Raglai lại sử dụng bộ Mã La 4 chiếc (không có Char Ato – Mã La cha).

Một ví dụ khác cho tập tục “trọng nữ khinh nam” là việc đan lát gùi, rổ, sàng gạo… dùng trong gia đình Raglai, chủ yếu do đàn ông đảm nhiệm. Chuyện này cũng “xưa rồi Diễm”. Bây giờ, đến thôn Cầu Gãy, khách thường được mời tham quan xưởng sản xuất các sản phẩm thủ công (vòng tay, tràng hạt, móc khóa…) được chị em Tổ nữ công thôn chế tác từ hạt cây rừng. Thêm một cách để cải thiện thu nhập cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, đầu ra cho sản phẩm này vẫn là bài toán không hề dễ giải…

Mải chuyện, vui chân, quên cả nắng xối, đỉnh Đá Đỏ đã hiện ra trước mặt. Leo qua cái thang ghép bằng cành cây chông chênh, người đang nóng bừng đầy mồ hôi chợt mát lịm dưới vòm đá. Theo Hoàng kể, những tảng đá ở đây không tự nhiên chồng lên nhau thành hang như thế, mà do bom đạn xới lên. Còn cái tên Đá Đỏ, không phải có ruby gì đâu, mà bởi rêu khô bám đá tạo thành từng mảng đỏ.

Đứng ở cửa hang, dễ dàng bao quát cả vùng Đồng Tròn và vịnh Vĩnh Hy, cùng bạt ngàn rừng ven biển với những thân cây bị gió mạnh uốn cong như ôm vào đá. Mây trắng trời xanh, nắng vàng biển biếc, gió lộng rừng reo, tất cả hòa quyện thành bức tranh thiên nhiên sống động, quyến rũ, mê hoặc lòng người.

Dưới chân núi, Bãi Thịt là một trong hai nơi hiếm hoi (cùng với hòn Bảy Cạnh ở Côn Đảo) các loại rùa biển như rùa xanh, vích, đồi mồi, rùa đầu to, rùa da… thường lên bờ đẻ trứng. Trùng hợp thú vị, núi Chúa cũng mang hình một con rùa, đầu quay về phía Nam. Vùng biển ven núi còn tập trung tới 350 loài san hô, 188 loài rong biển, hình thành môi trường lý tưởng cho các loại thủy sản sinh sôi…

Thật bõ công một buổi bêu nắng leo núi, chịu gai cào và kiến cắn. Vô vàn tổ kiến đan bằng lá cây trên những cành không cao lắm. Đây cũng là một “nguồn thu” của dân đi rừng. Họ thường lấy trứng kiến, bán cho những tiệm kinh doanh chim cảnh, hoặc làm mồi câu. Gần đây, nhiều đội phượt đang “mốt” thả thịt lợn vào tổ kiến, để kiến cắn một lúc, rồi mang nướng không cần ướp thêm gia vị, miếng thịt ngấm nọc kiến có hương vị khá độc đáo…

Thời chiến tranh, đỉnh Đá Đỏ được dùng làm đài quan sát của du kích thôn Cầu Gãy, thuộc Chiến khu 19 anh hùng. Nơi đây đã diễn ra những cuộc chạm súng ác liệt giữa du kích với lính Mỹ. Đỉnh Đá Đỏ nằm ở vị trí đắc địa, dễ phòng thủ khó tấn công, nên quân Mỹ nhiều phen bị đẩy lùi.

Trong thôn Cầu Gãy, ông Cao Văn Yên từng tham gia du kích, là nhân chứng sống duy nhất còn lại về trận chống càn năm xưa ở Đá Đỏ. Mấy năm trước, ông Yên thường được Vườn quốc gia Núi Chúa mời làm hướng dẫn viên du lịch, kể chuyện lịch sử cho khách. Gần đây, tuổi cao, không leo núi được, ông mới nghỉ. Khách đến nhà tìm, tiếc thay kém duyên, chưa được gặp ông Yên…

Dạo rừng Núi Chúa đến khi mỏi gối, khoan khoái dừng chân bên suối Lồ Ồ, thưởng thức món bánh tráng cuốn chả cá đặc biệt do Mấu Văn Hường chuẩn bị. Suối trong veo, nhìn rõ mấy con cua đá giương càng và chú tôm suối to bằng ngón tay cái, thân mình vằn vện như tôm hùm. Ngả lưng phiến đá mát lạnh, vừa thả chân xuống nước, lập tức đàn cá nhỏ tung tăng đến rỉa, như mát xa. Nghe truyền thuyết suối Lồ Ồ nửa thực nửa mơ…

Chuyện rằng, xưa có chàng ngư phủ tên Vĩnh Hy, gặp nàng tiên có đôi cánh trắng đến tắm biển đêm ở vịnh Vũng Găng. Tiên bén duyên trần, hai người thành vợ chồng, sống hạnh phúc. Một hôm chàng ngư phủ dong thuyền ra khơi, bất ngờ gặp giông tố, mất tích. Nàng tiên ngày nào cũng lên núi Chúa nhìn ra biển ngóng chồng. Nước mắt nàng tuôn thành suối Lồ Ồ, chảy đến bây giờ. Cũng từ đó, Vũng Găng được gọi là vịnh Vĩnh Hy.

Ngẫm thấy các cụ nhà mình xưa lãng mạn phết, đi đâu trên dải đất hình chữ S thân yêu này cũng nghe tích… “xem trộm tiên tắm”. Nước biếc non xanh đẹp ngơ ngẩn thế này, chắc hơn cả thượng giới, hay bởi cõi tình đắm đuối nồng nàn, nên các nàng tiên mới ghé xuống rồi chẳng thiết về trời(!)

Cũng như khách phương xa, còn đang giữa đường thăm núi Chúa, đã nhủ lòng thầm hẹn ngày quay lại…

Nguyễn Việt