Nước sạch và sinh kế tặng đồng bào Khơ Mú

Theo tổng điều tra dân số năm 2019, tỉnh Yên Bái có 1.539 người dân tộc Khơ Mú, sống tại 9 huyện thị. Trong đó, xã Nghĩa Sơn (huyện Văn Chấn) và xã Túc Đán (huyện Trạm Tấu) được coi là “thủ phủ” của đồng bào Khơ Mú ở Yên Bái.

Anh Lường Văn Si – Chủ tịch UBND xã Nghĩa Sơn – cho biết: Nghĩa Sơn vốn là xã duy nhất thuộc tỉnh Yên Bái có người Khơ Mú sinh sống. Sở dĩ có một bộ phận “chuyển biên chế” sang xã Túc Đán, là do chính quyền xác lập lại địa giới các huyện thị thôi. Người Khơ Mú, hay còn gọi là người Xá, di cư từ Lào sang Việt Nam khoảng trên 100 năm. Hiện nay, người Khơ Mú chiếm tới 97% dân số xã Nghĩa Sơn, nên ở đây người Kinh và người Thái mới thực sự là “dân tộc thiểu số”.

Bà con Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn chủ yếu cư trú trên núi cao, độ dốc lớn, sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào nương rẫy, trồng ngô, lúa và chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên cả xã chỉ có 41 ha đất ruộng. Với điều kiện thiếu thốn và khí hậu khắc nghiệt vùng cao, bà con lo đủ ăn đã hết sức vất vả. Dân nghèo nhiều, hết mùa vụ lại bươn bả sang huyện khác, tỉnh khác, kiếm việc làm thuê. Chỉ một số rất ít gia đình có thu nhập thêm từ đồi măng sặt (cây thuộc họ tre, thân nhỏ) đặc sản, song mỗi năm cũng chỉ thu hoạch một vụ măng vào tháng 2 Âm lịch.

Bản nghèo của người Khơ Mú khuất lấp giữa núi rừng

Chính quyền địa phương cũng đã cố gắng hỗ trợ, vận động bà con làm thêm vụ ngô sau vụ lúa hàng năm, nhưng nan giải nhất là thiếu nước tưới, có trồng cũng đành phó mặc cho trời, may thì được mùa. Ở Nghĩa Sơn, ngay cả nước sinh hoạt cũng thiếu. Trên địa bàn xã không có suối lớn, phải làm đường ống dẫn nước từ “mó” trên núi cao về bản. Tuy nhiên, đường ống được lắp đặt từ mấy chục năm trước, nay xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh.

Chưa kể, những thửa ruộng bậc thang mà khách miền xuôi lên thường trầm trồ khen đẹp, chụp ảnh tới tấp ấy, lại là “thủ phạm chính” gây ô nhiễm nguồn nước, do “ngấm” thuốc bảo vệ thực vật từ đầu nguồn. Thêm vào đó, tuy ruộng bậc thang cho năng suất cao hơn nương rẫy truyền thống của bà con, song lại “thay đổi kết cấu địa chất”, khiến nguy cơ sạt lở thêm trầm trọng.

“Biết nước ô nhiễm đấy, mà vẫn phải dùng thôi” – chị Vì Thị Lương, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Nghĩa Sơn, “cảm thán” khi dẫn khách thăm chỗ lấy nước của bản Nậm Tộc. 50 gia đình Khơ Mú của bản này dùng chung 1 bể nước “cuối nguồn” đầy tạp chất. Bể cũ nứt, ống vỡ, nước đọng thành ao nhỏ đục ngầu bùn bên cạnh bể, nơi lũ trẻ vầy nghịch lấm lem.

Chị Lò Thị Thúy Nga và anh Lường Săn Si làm việc với nhóm tiền trạm của PAN và Cô Son Charity

Giữa trưa nắng xối, bà con bản Nậm Tộc tụ tập khá đông bên bể nước. Toàn phụ nữ và trẻ nhỏ. Họ “xếp hàng” để lần lượt vào giặt giũ, tắm rửa và hứng nước chảy ri rỉ từ cái vòi cũ, cho vào can, cõng về dùng cho cả gia đình.

Bà Vì Thị Nhi ở bản Nậm Tộc đã ngoài 60 tuổi, nhỏ thó, còng lưng cõng can nước nặng trĩu ngược dốc núi, cười móm mém: “Mỗi ngày mình hứng 30 can nước, vẫn không đủ cho cả nhà đâu. Người nhiều nước ít, đợi nhau mà lấy nước, chỉ mỗi hứng nước đã hết ngày rồi. Nước trên núi mà, mưa nhiều thì vòi chảy to, có hôm không chảy đấy. Có nước là mừng rồi.”

Hỏi trai tráng đâu cả, sao không giúp cõng nước? Chị Vì Thị Lương cười: “Truyền thống mà. Lấy nước là việc của phụ nữ Khơ Mú mình. Với lại đàn ông đi làm thuê, đi rừng hết rồi”.

Bể nước duy nhất của 50 gia đình ở thôn Nậm Tộc

Theo quan niệm của dân tộc Khơ Mú, nước là thứ linh thiêng, và người phụ nữ trong gia đình cũng rất được coi trọng. Trong tết “Mạ chiêngz” cổ truyền của người Khơ Mú – trùng với tết Nguyên Đán của người Kinh – tục lấy nước đầu năm mới là nghi thức quan trọng nhất, do bà chủ gia đình đảm nhận.

Tinh mơ ngày mồng một tết, những người phụ nữ Khơ Mú phải dậy thật sớm để đi lấy nước về dâng cúng tổ tiên và để mọi người trong gia đình uống, với mong ước quanh năm được khoẻ mạnh, may mắn. Bà chủ gia đình vác ống bương mới, làm từ cây bương to, khoẻ nhất và cắt gọt đẹp đẽ, leo mãi lên đỉnh núi, tìm tận đầu nguồn nước. Bà con quan niệm, khe nước đầu nguồn thì phía trên không có ai làm bẩn đục.

Nước thanh khiết mang về, bà chủ nhà sẽ lấy 3 cái cốc ống nứa, múc đầy nước, đặt vào bàn thờ “ma nhà”, nơi thờ tổ tiên và bàn thờ thổ công. Tiếp đó, tất cả mọi người trong nhà đều uống một ngụm nước mới, rồi còn dùng trước mới để rửa mặt và chân tay. Họ tin rằng, những giọt nước đầu tiên của khe nước trong năm mới sẽ tốt lành, mang lại may mắn. Do vậy, nếu năm nào đi lấy nước mới, thấy nguồn nước đục hoặc nước ít, nghĩa là “điềm báo” năm đó sẽ có tai ương…

Chờ đến lượt hứng nước

Người Khơ Mú quý nước lắm, luôn nhắc nhở con cháu phải biết bảo vệ và giữ gìn nguồn nước. Chắc cũng xuất phát từ thực tế, vùng cao thường xuyên “khát nước”, nhất là nước sạch.

“Nguyện vọng tha thiết của xã Nghĩa Sơn là xây được một số bể lọc nước, đặt tại các thôn bản, để đảm bảo sức khỏe cho bà con, do nguồn nước dẫn trên núi về ngày càng ô nhiễm” – anh Lường Văn Si, Chủ tịch UBND xã tâm sự – “Bên cạnh đó, xã cũng đang thử nghiệm trồng một số loại cây công nghiệp như chè, quế, hoặc cây ăn trái, giúp bà con có thêm nguồn thu nhập ổn định về lâu dài. Nhưng phát triển nông nghiệp thì càng cần nhiều nước sạch, thêm cây giống và hướng dẫn kỹ thuật. Với điều kiện thiếu thốn trăm bề của xã, đó thực sự là vấn đề nan giải”.

Chị Vì Thị Lương – Chủ tịch Hội phụ nữ xã – giải thích thêm: “Ngân sách xã hạn hẹn, trong khi rất nhiều gia đình còn thiếu ăn thiếu mặc, muốn mở rộng sản xuất mà lực bất tòng tâm. Chỉ tính riêng trong số hộ nghèo thuộc Hội Phụ nữ xã chúng em, đã có 46 trường hợp đơn thân, chồng mất sớm, một mình nuôi con nhỏ mà chỉ dựa vào ít khoảnh lúa nương. Nhiều gia đình nhà cửa dột nát xiêu vẹo chưa sửa nổi, nói gì đến phát triển kinh tế. Có trường hợp thương tâm hơn, như chị Vì Thị Tươi, sức khỏe kém, chồng mất, một nách 2 con nhỏ, trong nhà đến cái giường cũng không có, mẹ con trải chiếu nằm đất, hàng xóm phải cho gạo cho ngô ăn qua ngày, bữa nào biết bữa đó”…

Hàng ngày, mỗi người phụ nữ Khơ Mú phải cõng vài chục can nước về nhà

Mong ước của chính quyền địa phương và đồng bào Khơ Mú đang dần thành hiện thực. Thông qua kết nối và hỗ trợ của nhóm thiện nguyện Cô Son, Tập đoàn PAN đã tổ chức khảo sát thực địa và triển khai “Chương trình cộng đồng Hỗ trợ người dân và hướng tới bình đẳng giới” tại xã Nghĩa Sơn. PAN đã đầu tư, khởi công xây dựng 6 bể lọc nước tại các thôn bản. Không lâu nữa, nước sạch sẽ về với bà con cả xã, xóa đi nỗi lo bao năm phải “sống chung với nước ô nhiễm”.

Trong nỗ lực góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, lãnh đạo Tập đoàn đã trực tiếp tặng 51.000 cây quế giống tới các gia đình nghèo nhất xã, các phụ nữ Khơ Mú đơn thân. Nhân dịp này, nhóm Cô Son đã trao quà động viên 10 học sinh nghèo vượt khó. Đại diện các công ty thành viên Tập đoàn PAN cũng nhiệt tình tham gia đoàn công tác lên Nghĩa Sơn, mang theo nhiều quà tặng là các sản phẩm đã thành thương hiệu nổi tiếng của tập đoàn.

Buổi trao quà, tặng cây giống, bà con Khơ Mú vui như hội. Ông Vì Văn Sang – Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Nghĩa Sơn – hồ hởi: “Cây quế trồng thử ở đây rồi, hợp đất lắm, mà lại được giá; chịu khó chăm sóc là có thể thoát nghèo. Tôi già rồi, chỉ mong con cháu sau này bớt khổ, đỡ phải lo ăn mặc thì mới tính chuyện giữ gìn văn hóa truyền thống người Khơ Mú mình được”.

Quế giống của PAN tặng bà con Khơ Mú

Anh Nguyễn Hải Minh – cán bộ văn hóa xã Nghĩa Sơn – giới thiệu thêm: Ông Vì Văn Sang là nghệ nhân, nhiều năm nay cần mẫn sưu tầm, phục chế, tự làm các nhạc cụ, vật dụng truyền thống của dân tộc Khơ Mú như eng (gùi có quai to, gắn mảnh vải đệm để vắt qua trán), gậy gỗ đặc (để chọc lỗ tra hạt), đàn nứa, pí-tót (sáo 1 lỗ), đao (gậy tỏ tình), khăn piêu, áo cỏm

Những năm gần đây, trong điều kiện hết sức khó khăn của xã, ông Vì Văn Sang đã tốn nhiều công sức góp phần phục dựng lại các bài múa dân gian, các bài dân ca Khơ Mú, để không bị thất truyền. Xã Nghĩa Sơn cũng đã phục dựng thành công lễ hội cầu mùa, rước mẹ lúa, mang bản sắc riêng của dân tộc Khơ Mú. Các thôn bản đều có đội văn nghệ “liên thế hệ”, được chia thành 4 nhóm: người cao tuổi, người trung tuổi, thanh niên và học sinh. Từng nhóm tổ chức sinh hoạt, luyện tập riêng theo thời gian phù hợp. Nhóm cao tuổi hơn sẽ truyền dạy, hướng dẫn cho nhóm tuổi kế cận, bồi đắp đam mê, tình yêu văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ.

Người Khơ Mú có nhiều phong tục rất nhân văn, đang đứng trước nguy cơ mai một, cũng vì đói nghèo. Dòng họ của người Khơ Mú đều mang tên một loài vật hoặc cỏ cây, cả dòng họ phải kiêng ăn loài đó. Ví dụ họ Lèo ăn kiêng thịt cầy hương, họ Lường kiêng ăn rau dớn, họ Vì kiêng ăn chim chích chòe, họ Mè kiêng ăn chim ri, họ Hoàng kiêng ăn thịt mèo, cáo…

Nghệ nhân Vì Văn Sang giới thiệu các nhạc cụ truyền thống của người Khơ Mú

Đồng bào Khơ Mú rất coi trọng các vật thể có công giúp đỡ con người. Sau mỗi vụ lúa, gia đình làm lễ Grơ mạ ngọ (đón mẹ lúa), bao giờ cũng làm thủ tục tạ ơn con trâu, cái rìu, cái cuốc, con dao… trước khi gia đình ngồi vào mâm cơm cỗ.

Mưu sinh nhọc nhằn, ngay cả nhà sàn truyền thống Khơ Mú cũng ít dần. Ông Vì Văn Sang kể, xưa nhà sàn thường làm 3 gian, với 3 cái bếp. 1 bếp nấu nướng thông thường, 1 bếp để đặt lễ thờ cúng, 1 bếp chỉ để xôi cơm. Nay thì cũng phiên phiến thôi, điều kiện không cho phép, dù ai cũng biết, muốn phát triển bền vững thì phải không quên gốc rễ nguồn cội. Cái khó bó cái khôn mà…

Chị Lò Thị Thúy Nga – Phó chủ tịch UBND huyện Văn Chấn – chia sẻ: “May mắn được các anh chị không quản ngại xa xôi lên đây hỗ trợ bà con, thực sự không chỉ giúp san sẻ gánh lo với chính quyền về phát triển kinh tế địa phương, mà còn gián tiếp tạo điều kiện để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Khơ Mú. Xã Nghĩa Sơn đã thành lập Câu lạc bộ Thanh niên tham gia giữ gìn văn hóa dân tộc, đồng thời định hướng cho sự phát triển du lịch cộng đồng. Nhưng muốn phát triển thì phải lo sinh kế trước mắt đã.”

Nguyễn Việt

Chị Vì Thị Tươi (áo trắng) tiếp khách trong căn nhà trống hoác

“Sân chơi” của lũ trẻ thôn Nậm Tộc

Phụ nữ Khơ Mú đi đâu cũng mang can hứng nước

Khởi công xây bể lọc nước tặng bà con