Những mảnh đời khuất sau rặng Khó Chua La

Núi non trùng điệp bao quanh xã Xá Nhè

Túp lều của gia đình em Sùng A Khoa rách nát nhất bản Tỉnh B (xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên). Không thể gọi là nhà, bởi chỉ có mớ que cành xẹo xọ đỡ lấy mái tranh đã mục. Cả “tường” và mái đều thủng lỗ chỗ, ngỡ chỉ một cơn giông nữa là đổ ụp.

Dãy núi Khó Chua La như bức tường thành sừng sững, ngăn cách những bản hẻo lánh của người Mông với bên ngoài, thành một “thế giới khác”, tối tăm và nghèo khó. Để đến đây, chúng tôi phải ngoi ngóp cả giờ đồng hồ mới chạy xe máy vượt được hơn 6 km đường mòn vắt vẻo sườn núi từ Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Xá Nhè về bản. Dốc hết dựng lên lại ngụp xuống thăm thẳm, bùn nước từng vũng lẫn đá tảng. May mà trời quang mây tạnh, chứ mưa thì lội bộ cũng khó.

Ngồi sau xe thầy giáo Sùng A Lử, tim đập như súng liên thanh. Tay lái kỳ cựu vùng cao, cứ bổ dốc là tắt máy tiết kiệm xăng, xe lừ lừ lao xuống, nói dại nhỡ cháy phanh thì không biết có ai moi hai anh em lên được từ đáy vực(!)

Đường về bản một ngày… không mưa

Căn lều như cái chòi canh nương ngô là nơi trú ngụ của vợ chồng Sùng A Củ – Hảng Thị Vừ, cùng 5 đứa trẻ. Nhà 6 con cơ, nhưng con gái đầu đã gả chồng sớm, cũng mới sinh cháu đầu lòng. Sùng A Củ sinh năm 1984, năm nay 35 tuổi đã thành ông ngoại. “Bà ngoại” Hảng Thị Vừ thì không nhớ nổi mình sinh năm nào, hỏi gì cũng chỉ cười ngơ ngác, đáp gọn lỏn mấy chữ: “Không biết đâu”. Hai đứa con nhỏ nhất cứ để truồng tồng ngồng, thấy khách đến mới được mẹ mặc cho manh quần rách.

Vợ con nheo nhóc thế, mà Sùng A Củ đi uống rượu suốt sáng đến chiều mới ngật ngưỡng về. Chưa say lắm, còn đủ tỉnh để cảm ơn khi nhận quà cứu trợ, nhưng cứ lóng ngóng đứng ngoài hiên, không dám mời khách vào, vì “nhà” chẳng có cái gì để ngồi. Hỏi sao không sửa nhà mà cứ rượu suốt vậy? A Củ gãi đầu: “Nhà chưa đổ đâu, mấy năm rồi mưa bão vẫn còn nhà mà. Hàng xóm có đám giỗ, người Mông mình mời rượu nhau không uống là giận đấy.”

Sau buổi học, chú bé Sùng A Khoa phải phụ mẹ lên nương vác ngô về. Bó ngô to đùng, nguyên cây cùng bắp và lá lòa xòa, che kín cậu học sinh lớp 4 nhỏ thó như đưa trẻ lên 5. Bắp để nấu mèn mén, còn thân lá phơi khô dùng thay củi, cái gì cũng tận dụng hết.

Túp lều này là nơi trú ngụ của 8 người trong gia đình em Sùng A Khoa

Sùng A Khoa cùng em trai kế là Sùng A Chìa, học lớp 3 cùng trường, đều bị bệnh vẩy nến nặng, vẩy đóng khắp người đen sì, gãi mạnh là chảy máu.

Khách ái ngại hỏi sao bố mẹ không cho xuống trạm xá lấy thuốc? Chị Ngô Thị Hương – chuyên viên Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Tủa Chùa – đi cùng đoàn, đỡ lời: “Khu vực này vừa có dịch anh ạ. Mấy tháng trước, hơn 300 học sinh Tiểu học và THCS xã Xá Nhè đồng loạt bị ngứa nhiều bộ phận trên cơ thể, không rõ nguyên nhân”.

Đa số học sinh của hai trường này là con em của cộng đồng dân tộc Mông, nhà nghèo, điều kiện vệ sinh kém. Đoán là các vật dụng bị nhiễm bẩn, các trường đã huy động giáo viên đem toàn bộ chăn, màn của học sinh nội trú đi giặt, sấy khô, nhưng hầu như không hiệu quả. UBND huyện đã yêu cầu Trung tâm Y tế huyện Tủa Chùa phun thuốc khử trùng. Nhưng chỉ làm như vậy được ở trường, còn về nhà các em lại ăn ở nhếch nhác, nên nhiều trường hợp vẫn bị ngứa kéo dài.

Sùng Thị Hờ (áo vàng) cùng mẹ và 2 trong số 4 đứa em nhỏ

Miếng ăn hàng ngày còn thiếu, chuyện học khó mà đến đầu đến đũa. Lớp 3 lớp 4 đấy mà chỉ bập bẹ tiếng Kinh, phải nhờ thầy giáo “phiên dịch” sang tiếng Mông khi khách hỏi chuyện. Hỏi thích đến trường không, A Khoa bẽn lẽn gật đầu. Hỏi sau này lớn lên muốn làm gì, cậu bé người Mông ngơ ngác nín lặng. Chắc ngay cả bố mẹ A Khoa cũng chẳng nghĩ đến chuyện “xa xôi” ấy…

Cách đó một sườn đồi với vài khu ruộng bậc thang, cũng thuộc bản Tỉnh B, là nhà em Sùng Thị Hờ, học lớp 5. Bản rộng mênh mông, mỗi quả đồi hay mỏm núi chỉ 1 – 2 nhà, nhưng đất cằn chỉ trồng được ngô, lúa nương, năng suất thấp. Gia đình 7 miệng ăn của Hờ cũng chỉ biết trông vào nương lúa ấy mà sống.

Buổi nào không lên nương thì vào rừng tìm chùm me sừng trâu, nhặt hạt “chữa rắn cắn” (hạt đậu lào), bắt con sâu cọ, hái quả dứa dại, bẻ cọng hoa đu đủ hay búp chuối rừng, đào củ mài củ ráy trên non cao, ngắt ngọn rau dớn dưới bờ suối… Nghĩa là nhặt nhạnh tất cả những gì có thể ăn được, hoặc mang xuống chợ phiên bán lấy vài đồng lẻ.

Vợ chồng Sùng A Củ – Hảng Thị Vừ cùng các con

Sùng Thị Hờ được đến trường học cái chữ đã là may mắn lắm, coi như “đổi đời” nếu so với bố mẹ. Bố của Hờ là Sùng A Cua – sinh năm 1991, mẹ là Thò Thị Dựa – sinh năm 1994, đều không biết chữ, chưa được đi học bao giờ. Cũng có lớp xóa mù chữ dành cho người lớn đấy, nhưng võ vẽ mấy chữ mà không dùng thường xuyên thì vài bữa lại quên hết ngay, “tái mù” rất nhanh.

Cuộc mưu sinh và cái sự học ở vùng cao cứ nhọc nhằn như lối mòn lên bản. Ngay thầy giáo Sùng A Lử đấy, ngày trước 15 tuổi mới vào lớp 1. Giờ thầy Lử đã sang tuổi 52, ngoài giờ lên lớp phải chăm nương ngô cùng vợ để nuôi 3 đứa con đang tuổi ăn học. Lương giáo viên chẳng thể đủ nuôi 5 miệng ăn, mà núi non trùng điệp đá nhiều hơn đất, ngoài ngô lúa ra chẳng trồng được cây gì…

Hoàng hôn giăng sương mờ khi chúng tôi ghé nhà em Vàng A Tu trong bản Pàng Dề A, cách bản Tỉnh B chừng 8 km. Bản này khá gần đường nhựa, nhưng vẫn chưa thấy điện đóm gì, những mái tranh bạc phếch ngả tối âm u khi bóng chiều buông, trong nhà ngột ngạt nóng như lò.

Vàng A Tu (áo đỏ) có vẻ ít nhút nhát hơn các bạn cùng lứa ở bản

Bố A Tu là Vàng A Nhí, mẹ là Giàng Thị Lù, cùng xăng xái vác ghế ra sân cho khách ngồi, rót nước mời. Vàng A Nhí cười thật thà: “Mình mới mới đưa vợ đi đặt vòng đấy. Vợ chồng có 4 con rồi, không đẻ nữa đâu, nghe lời cán bộ bảo đẻ nhiều càng nghèo mà. Đỡ phải chăm con nhỏ thì vợ mới theo mình lên nương được, trồng thêm lúa cho các con ăn.”

Nhà cũng nghèo xơ xác, nhưng thế là bố mẹ có vẻ “tiến bộ” nhất trong số mấy nhà chúng tôi đến thăm rồi. Vàng A Tu cũng sáng sủa và ít nhút nhát hơn các bạn cùng lứa ở lớp, bẽn lẽn kể rằng thích học toán, sau này lớn lên muốn làm công an… Tất nhiên, để ước mơ của A Tu thành hiện thực, còn cả chặng đường gian nan phía trước, khi mà gia đình nằm trong diện cần cứu trợ.

Nương lúa quanh bản Pàng Dề A đang vào kỳ trĩu hạt, nhìn mát mắt thế, nhưng diện tích ruộng chẳng đáng kể, khó mà đủ ăn. Những đỉnh núi cao lởm chởm đá của dãy Khó Chua La khiến địa hình bị chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, rất ít đất bằng. Đã vậy, thời tiết mùa nào cũng hết sức khắc nghiệt: Mùa khô từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, hay xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng tháng 8 thường có mưa đá, gió lốc lớn.

Bản nghèo, nơi ăn chốn ngủ cũng xác xơ

Tại xã Xá Nhè nói riêng và cả huyện Tủa Chùa nói chung, mùa khô là nước cạn kiệt. Năm nay nắng nóng, khô hạn kéo dài khiến nhiều nơi bà con không thể gieo cấy như thông lệ. Được biết, UBND huyện Tủa Chùa đã hỗ trợ kinh phí, chỉ đạo các xã tích cực vận động người dân chuyển đổi một số diện tích đất lúa một vụ bị thiếu nước, sang trồng lạc và đậu tương.

Xá Nhè là xã có diện tích chuyển đổi lớn nhất huyện Tủa Chùa, với gần 10 ha đất phải chuyển sang trồng lạc và đậu tương, chủ yếu là những khoảng đất phụ thuộc nước từ các khe suối và ruộng bậc thang mới khai hoang. Giải pháp là cần thiết, song nỗi lo còn đó. Mới làm nên bà con thiếu kinh nghiệm, chưa kể bài toán đầu ra vẫn là thứ chính quyền lúng túng, còn để dân tự mang ra chợ thì chuyện thoát nghèo xem ra còn rất xa vời.

Chợ phiên Xá Nhè họp từ sáng sớm đến xế chiều ở trung tâm xã, cứ 6 ngày lại có một phiên (chợ lùi). Đồng bào tính ngày chợ theo Âm lịch, thường vào ngày Dậu và ngày Mão. Hàng hóa chủ yếu là nông sản, thực phẩm, dụng cụ sản xuất, một ít đồ thủ công đan lát…

Người còn thiếu ăn, nên chú bê mới sinh cũng gầy trơ xương

Chợ chưa thực sự giúp bà con tiêu thụ nông sản, mà thiên về “lấy vui là chính”. Nhiều người xuống chợ chỉ mang một con gà, một gùi rau quả, bán xong là gặp bạn uống rượu, như một cách giải lao sau cả tuần lao động mệt nhọc. Muốn tiêu thụ được nhiều hơn, chí ít cũng phải mang về thành phố Điện Biên Phủ, ngót 120 km đèo dốc là quãng đường quá xa để đi bộ hoặc chở hàng bằng ngựa.

Thầy giáo Bùi Quang Trung – Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Xá Nhè – cho hay: Huyện Tủa Chùa nghèo lắm, thuộc diện cần hỗ trợ theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. 95% người trong huyện là đồng bào các dân tộc thiểu số. Huyện có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, thì ngoài thị trấn huyện lỵ tương đối “khá khẩm một chút”, toàn bộ 11 xã còn lại đều là xã đặc biệt khó khăn. Dễ hiểu vì sao trong hơn 1.000 học sinh Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Xá Nhè, có tới 900 em thuộc hộ nghèo.

“Điểm sáng” nhất cho hy vọng thoát nghèo của xã Xá Nhè, có lẽ là tiềm năng du lịch hang động Khó Chua La. Thầy giáo Sùng A Lử giải thích: Theo tiếng Mông, “Khó” nghĩa là hang động, “Chua” là núi đá, “La” là khỉ. Ngày trước dãy núi này rất nhiều khỉ, nay thì chuột cũng hiếm, do bị săn bắt tận diệt.

Nương lúa nhỏ chẳng đủ nuôi những gia đình đông miệng ăn

Rừng bị vắt kiệt rồi, phải xoay hướng khác thôi. Đường lên động Khó Chua La đã được đầu tư làm mới, khá thuận lợi. Trong động cũng xây bậc thang, lắp điện sáng để du khách chiêm ngưỡng vô số nhũ đá muôn hình vạn trạng. 5 khoang động nối tiếp nhau, kéo dài cả cây số trong lòng núi, mỗi khoang mang vẻ đẹp kỳ bí riêng. Những năm gần đây, lượng du khách lên Xá Nhè chơi chợ phiên, thăm động Khó Chua La đang tăng dần.

Nhưng để phát triển du lịch thì không thể chỉ có mỗi cái động đẹp. Cần rất nhiều nỗ lực và sự hỗ trợ để hướng bà con làm dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề, chú trọng các sản phẩm thủ công truyền thống, tổ chức các hoạt động nhằm giữ gìn và quảng bá văn hóa dân gian… Chỉ có vậy mới mong từng bước xua dần bóng núi âm u bao đời bao phủ những phận người…

Nguyễn Việt

Những đứa trẻ tự chơi tha thẩn bên đường mòn sườn núi hoặc bên mái hiên dột nát

Ngọn đu đủ hay mớ ớt rừng cũng thành “đặc sản” bán ở chợ

Quả me sừng trâu

Hạt đậu lào “chữa rắn cắn”

Dứa dại để ngâm rượu, sâu cọ là món “khoái khẩu” của nhiều người vùng cao