“Mở toang hai mắt xem trời đất”

Tại thành phố Đà Nẵng bây giờ, có một con đường mang tên Tiểu La Nguyễn Thành, nối từ đường Núi Thành (gần đường rẽ vào khu tập thể Hòa Cường) qua ngã tư đường Tống Phước Phổ, đến đường 2 Tháng 9, thuộc quận Hải Châu.

Nguyễn Thành còn gọi là Nguyễn Hàm, tự là Tiểu La, sinh năm 1863, tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình (nay là thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), trong một gia đình Nho giáo. Thân sinh ông là Nguyễn Trường, làm Bố chánh sứ tỉnh Bình Định, hàm Tham Tri dưới thời Tự Đức.

Vốn tính thông minh, từ thuở nhỏ ông thường chuyên chú đọc các loại binh thư, cùng sử địa nước nhà, mang hoài bão tìm đường cứu nước, cứu dân.

Năm 1885, ông lều chõng ra Huế để thi Hương, nhưng vào thời điểm ấy vụ binh biến kinh thành Huế diễn ra, kỳ thi không tổ chức được, ông trở lại quê nhà, từ bỏ đèn sách, hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội.

Ông chiêu mộ một cánh quân, kết cùng Nghĩa Hội đánh thành tỉnh. Lúc này ông mới vừa tròn 18 tuổi, vì thế các tướng sĩ có ý xem thường, nhưng ông vẫn không nản lòng, quyết  đánh Pháp.

Khi Pháp đưa quân chiếm lại thành tỉnh, Nam triều bổ nhiệm Châu Đình Kế làm Tuần Vũ Quảng Nam, đưa quân đi càn quét vào các huyện, xã. Nguyễn Thành liền cho quân mai phục, đánh thắng nhiều trận, uy tín ngày càng cao. Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu tin tưởng giao cho ông chức Tán Tương quân vụ kiêm Thượng Biện tỉnh vụ. Khi chủ tướng của Nghĩa Hội tại mặt trận Đà Nẵng là Án Nại Nguyễn Hanh hy sinh, ông được chỉ định thay thế. Nghĩa binh dưới quyền chỉ huy của Tiểu La Nguyễn Thành đã mở nhiều trận đột kích vào Đà Nẵng.

Năm 1887, phong trào Nghĩa Hội bị thất bại, sĩ phu có người bị giặc Pháp bắt, có người tự vẫn, Nguyễn Thành vẫn cương quyết chiến đấu đến cùng. Ông bị giặt bắt, chúng tìm mọi cách mua chuộc ông nhưng không thành, vì thế chúng quản thúc ông tại quê nhà. Ẩn mình trong sơn trang với mẹ già, Tiểu La tiếp tục nuôi chí lớn, bí mật hoạt động, liên lạc với các văn nhân, sĩ phu yêu nước trong tỉnh và cả nước, chờ thời cơ giúp dân, cứu nước.

Năm 1903, Phan Bội Châu đã đến sơn trang để tìm gặp Nguyễn Thành, bàn việc nước. Năm 1904, Hội nghị thành lập Duy Tân hội đã diễn ra tại đây, ông là một trong những người có công lớn trong việc sáng lập và tổ chức Duy Tân hội.

Sau khi Phan Bội Châu sang Nhật, Nguyễn Thành bí mật hoạt động ở trong nước, vận động kinh phí, đưa thanh niên ra nước ngoài du học để chuẩn bị lực lượng cứu nước.

Năm 1908, cùng lúc phong trào Duy Tân hội đang phát triển mạnh, cuộc kháng thuế ở Trung Kỳ đã nổ ra, giặc Pháp thẳng tay đàn áp và truy bắt các sĩ phu yêu nước, Tiểu La-Nguyễn Thành lại một lần nữa rơi vào tay giặc, bị đày đi Côn Đảo. Giữa ngục tù, chịu đòn roi tra tấn, ông vẫn khẳng khái ngâm thơ:

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn
Thu vũ thu phong ám đoạn hồn.
Tợ ngã suy đồi tâm vị lão,
Thị thùy khẳng khái chí du tồn.
Phong vân biến huyển chân kham sá,
Thiên địa tuần hoàn bất đãi ngôn
Mỗi ngộ tao đàn cao cải sí
Tự tâm kích cổ quá lôi môn.”

Bản dịch của Nguyễn Thiếu Dũng:

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
Mưa gió trời thu ảm đạm hồn
Thân dẫu suy mòn tâm vẫn trẻ
Nào ai khẳng khái chí đang còn
Gió mây biến đổi bao hình thái
Trời đất vần xoay khó tính khôn
Dựng lại đàn thơ, giương ngọn đuốc
Lòng son hứng dậy trống khua dồn

Tiểu La Nguyễn Thành qua đời trong ngục vào ngày 11/11/1911. Bài thơ cuối cùng ông để lại cho đời:

Nhất sự vô thành mấn dĩ ban
Thử sinh hà diện kiến giang san
Bổ thiên vô lực đàm thiên dị
Tế thế phi tài tỵ thế nan
Thời cuộc bất kinh vân biến huyễn
Nhân tình chỉ khủng thủy ba lan
Vô cùng thiên địa khai song nhãn
Tái thập niên lai thí nhất quan

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) dịch thơ:

Một việc chưa thành tóc nhuộm màu,
Non sông ngoảnh lại thẹn mày râu.
Vá trời thiếu sức bàn nghe dễ,
Cứu thế không tài tránh ở đâu?
Cuộc biến ngại gì mây đổi sắc,
Tình người e nổi sóng thêm sâu.
Mở toang hai mắt xem trời đất,
Ngắm thử mười năm vẫn thế ru.

Nghe tin Nguyễn Tiểu La mất, một đồng chí và là bạn tù của ông là Nguyễn Đình Kiên (?-1942), người Hương Sơn (Hà Tĩnh), có làm câu đối điếu:

Quân hầu kỳ Hoành Sơn nam chi hào dư, tiền Cần vương sự, hậu ứng nghĩa trào, trấp tải kinh doanh, điệp điệp cương trường lưu phiến mặc.
Ngô bối vị Hồng Lạc tổ giả tử nhĩ, hoành hữu bát hoang, tung hữu thiên cổ, đương niên tâm sự, ngao ngao dư luận phó giang vân.

Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Quân hầu rõ bực hào phía Nam núi Hoành Sơn chăng? Cần vương lớp trước, Tân đảng lớp sau, nửa kiếp kinh doanh, khảng khái tâm thành ghi nét mực.
Chúng ta chết vì để báo đền cho tổ Hồng Lạc đấy! Tám cõi bề ngang, nghìn xưa bề dọc, một bầu tâm sự, xôn xao miệng thế phó chòm mây!

Mộ cụ Tiểu La Nguyễn Thành tại quê nhà

(sưu tầm)