Lùng Cúng – mưa qua rừng sơn tra

Chuyến xe đêm lèn kín khách

“Em không thích chở người có học” – tay lái xe khách mặt non choẹt, giở giọng kẻ cả – “Người trên này ít học, bảo thế nào nghe thế nấy, chứ không có phàn nàn rắc rối như các anh chị.”

Chừng như tự thấy lời “giải thích” trái khoáy, khách vẫn kêu ca, do chiếc xe loại 45 chỗ mà lèn hơn 60 người, gã trai nhếch mép: “Thế này đã ăn thua gì mà bảo chật! Dịp tết, em còn chở 104 người trên xe này đấy. Có xe mà đi là tốt rồi, ai thắc mắc gì đâu”(!)…

Thời đại công nghệ 4.0 ở đâu không biết, còn khách “hành hương” Mù Cang Chải mùa vàng, vẫn dễ gặp tài xế “vui tính” kiểu vậy. Nguyên do bởi tuyến này ít xe, nhất là ban đêm. Lại không xuất phát từ thị trấn, mà “nhảy ngang đường” Tú Lệ, càng không nhiều lựa chọn.

Tú Lệ ngưỡng cửa mùa vàng

Ngồi xe mất sức hơn leo núi, nhưng người “miền xuôi” cứ đổ lên nườm nượp. Hấp lực quá lớn. Trời thu se se, bên đường Tú Lệ nồng nàn hương cốm vừa giã trong cối gỗ. Sương núi bảng lảng quàng khăn trên những thửa ruộng bậc thang óng ả vàng. Con đèo uốn lượn trong mây ngàn gió lộng, phiêu du những cánh dù lượn chao nghiêng nền trời…

Có bị “hành” đôi chút, cũng là “người Kinh mình hành nhau” cả thôi, chứ người “ít học” trong những bản nghèo Mù Cang Chải thì quá đỗi thân thiện dễ thương. Như 4 cậu người Mông vừa gặp: Hờ A Nhà, Hờ A Lâu, Thào A Thái và Thào A Trừ, dốc cao vác nặng song lúc nào cũng tươi rói, chiều khách hết cỡ.

Gặp người xởi lởi, mất tiền cũng vui. Xe khách Tú Lệ – Hà Nội, vé 200 ngàn đồng cho 275 km, khá rẻ, mà vẫn khó chịu. Cuốc xe ôm 10 km từ Tú Lệ vào chân núi ở xã Nậm Có, cũng mất 200 ngàn đồng, tưởng đắt, mà cười toe toét cả hội với nhau. “Đáng đồng tiền bát gạo”, bởi cung đường nhão nhoẹt mùa mưa, dốc lên thăm thẳm dốc xuống hun hút, đi bộ còn rón rén, mà xe người Mông cứ phóng ào ào. Mấy lần xe “bốc đầu” giữa dốc, phải hì hụi đạp bùn mà đẩy, còn hơn bấm bụng mỗi lúc bánh xe quay tít khét mù bên bờ vực…

Dốc rừng trơn tuột dưới mưa phùn

Vừa kịp thở phào “biết mình còn sống” sau cuốc xe bão táp, được xuống leo bộ, đã “thở hắt” khi thấy đường mòn lên đỉnh Lùng Cúng bắt đầu bằng con dốc sâu hút. Kinh nghiệm nhiều lần rồi, chỗ nào mới đầu leo xuống thì rồi lát nữa leo lên cứ gọi là “tướt bơ”.

Đùa Hờ A Nhà rằng “ác thế”, sao không cho đến chỗ nào “lên luôn”, còn bắt trèo xuống dốc thì bao giờ tới đỉnh?! A Nhà cười hề hề: “Mình khởi động mà anh, leo xuống cho dễ, tí nữa quen chân rồi leo lên mà”. Cái lý người Mông khó cãi ra phết. Cũng chỉ “làm hàng”, xuống một lát thôi, lại leo ngược ngay.

Cơn mưa lâm thâm từ sáng sớm, vừa ngừng bay những giọt lệ trời “khóc nhẹ như khóc dối”. Đường chân núi ngập bùn, nhưng trên dốc đã khô, càng lên cao càng khô. Có lẽ đó là động lực lớn nhất, chứ còn khúc dưới chân Lùng Cúng cảnh sắc thường lắm, toàn cây bụi lúp xúp, chưa thấy bông hoa nào. Vài khoảnh ruộng bậc thang bé xinh, chắc bởi núi này dân cư thưa thớt, không “hoành tráng” như chỗ “đồi mâm xôi” nổi tiếng của Mù Cang Chải.

Núi san sát núi

Những ngọn núi xung quanh, nhìn từ tầm này có vẻ cũng không cao lắm và không mấy hiểm trở – cảm giác thế thôi, vì đỉnh Lùng Cúng 2.913 m, “chẳng phải chuyện chơi”. Núi san sát núi, không còn chỗ cho biển mây, nên mây ở Lùng Cúng cứ “dịu dàng thanh mảnh” tựa cô bé mới lớn, rụt rè ngơ ngác tìm lối lên trời. Cao thêm một quãng, mây tụ nhiều hơn, trắng nõn chân trời, song cũng dừng ở mức “hồ” chứ chưa thành “biển”.

Leo thong thả đôi giờ, dốc chưa gắt lắm, vừa đủ “khô miệng”, đã đến rừng sơn tra đang mùa quả chín trĩu cành. Có chỗ là rừng trồng, cả sườn núi cây liền cành, trái xen trái. Có những cây sơn tra lại đứng một mình bên lối mòn, chi chít quả sà xuống ngang tầm tay với, nhiều quả chín đỏ, thơm lừng hấp dẫn.

Cậu thanh niên Hờ A Lâu – cháu gọi Hờ A Nhà bằng chú – 20 tuổi sức trai đang lớn, dẫn đầu đoàn, ngoái lại mời: “Anh cứ hái ăn thoải mái. Cây này mọc tự nhiên mà. Muốn hái nhiều thì ra chỗ rừng trồng kia, có lấy cả cân cũng được, bà con ở đây vẫn mời khách, không ngại đâu”.

Trái sơn tra trĩu cành đang chín rộ

Cây sơn tra – tên dân dã gọi “táo mèo” – gắn liền với hành trình du canh du cư thuở trước của người Mông qua bao rặng núi cánh rừng. Vùng cao khí hậu khắc nghiệt lạnh giá, đất đai cằn cỗi, nên trong các loại cây có trái ăn được, duy chỉ sơn tra sinh sôi nảy nở nhiều nhất. Giống này chủ yếu ngâm rượu hoặc làm si-rô, gần đây thêm món ô mai táo mèo có vẻ được chuộng, chứ ăn tươi thì chát xít họng.

Nhưng giữa rừng được hái trái chín ăn, còn đòi gì hơn. Trái sơn tra chín mọng cũng không chát lắm, vị ngọt hậu nhiều, không chỉ giải khát mà còn tăng lực cho đôi chân chớm mỏi. Cứ như “đô-ping”. Cây càng già quả càng ngon. Chẳng trách, bà con vùng cao dù thường xuyên chặt cây dựng nhà, làm củi, nhưng tuyệt nhiên không ai chặt phá cây sơn tra.

Không những thế, sơn tra hiện nay còn được xem là “cây thoát nghèo” của không ít bản làng trên núi. Riêng bản Lùng Cúng, hơn trăm hộ dân, nhà nào cũng trồng sơn tra, nhiều thì 1 – 2 ha, ít cũng cả trăm gốc. Mỗi ha sơn tra có thể mang lại thu nhập vài chục triệu đồng một năm, cao hơn nhiều so với nương lứa, đồi ngô.

Sơn tra được xem là “cây thoát nghèo”

Cây ngô trồng ở đây còi cọc, bắp nhỏ. Đất núi cũng không hợp với các giống lúa mới năng suất cao, còn lúa nương thuần chủng địa phương thì cho ít thóc lắm, nhà nào may mắn mới đủ gạo ăn. Phía chính quyền khuyến khích dân trồng sơn tra, vì bên cạnh việc cải thiện thu nhập, còn giúp tăng diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, hạn chế xói mòn, sạt lở.

Được cả “thiên thời địa lợi nhân hòa”, cây sơn tra cứ thế phát triển ở Lùng Cúng, nhiều chỗ chẳng thể phân biệt đâu là “vườn nhà”, khi lứa sơn tra mới đua nhau vươn cành bên những gốc sơn tra cổ thụ xù xì cứng cáp. Nghe nói, quanh dãy Lùng Cúng có tới hơn 3.000 cây sơn tra mọc tự nhiên khắp rừng…

Mưa lại lác đác bay ẩm áo. Mải chuyện vui chân, đã đến giờ ăn trưa. Đội người Mông chuẩn bị sẵn 12 gói xôi to vật vã, mỗi gói đủ vài người ăn, cùng giò và muối vừng. Xôi đồ với lá rừng, mang sắc tím đẹp mắt, gạo nương thơm dẻo, nhưng chẳng dám ăn nhiều, sợ nặng bụng leo hết nổi.

Bữa trưa lưng núi

Mây trắng vẫn giăng hàng bên núi và trườn lên từ thung lũng xanh rì, thành những bức màn mỏng tang, vấn vít. Nhưng mây đen dồn phía cuối trời, tiếng sấm ầm ì đe dọa phía xa, giục lữ khách rảo chân. Thào A Thái “dọa”, tuần trước có đoàn đang leo giữa núi thì gặp mưa đá, chẳng có chỗ trú, phải lấy balô che đầu, may mà đá nhỏ nên không hề hấn gì.

Dọa thế, song A Thái và A Trừ vẫn nhẩn nha rẽ ngang tạt ngửa, lượn vào rừng bẻ măng. Dịp này mưa nhiều, măng le lên nhiều lắm, cứ lấy chân đạp nhẹ là nhặt được măng, tươi nõn nà thế, luộc ngọt phải biết. Đám khách mải chơi, vừa chạy mưa một lúc, thấy ngớt lại chậm bước ngoạn cảnh.

Đường lên đỉnh Lùng Cúng, cũng là lối đi của trâu bò chăn thả trên núi, lắm đoạn nồng mùi “organic”, được cái càng lên cao càng nhiều hoa. Bên cạnh sắc tím quen thuộc của hoa sim, hoa mua, còn có nhiều thảm hoa vàng không biết tên, mọc thành từng chùm như những búi tóc óng ả lạ mắt. Đôi chỗ, những bông hoa to tròn, cánh trắng nhụy vàng, rụng thành thảm dưới gốc cổ thụ, mà ngước lên không thấy bông nào, chắc hoa nở mãi ngọn cây cao tít.

Những con suối nhỏ đẹp như tranh…

Từ mấy thân cây mục, nhô lên mấy đóa hoa màu đỏ rực, hình dáng tựa những cái loa nhỏ xíu cong cong ngộ nghĩnh. Vài bụi cây lá dài hao hao lá mùi tàu, cũng trổ hoa trắng muốt, trông giống mâm xôi… Bên dòng suối, rừng cây tạo dáng muôn hình vạn trạng, vươn đám cành cong queo phủ đầy tầm gửi, như đám vòi bạch tuộc tua tủa cổ quái. Góc khác, rêu bám cành cao, rủ xuống tựa buông mành…

Đến lán, thấy tạnh mưa, mấy anh em chỉ nghỉ lấy hơi 15 phút rồi leo đỉnh luôn, sợ nhỡ mai mưa to thì nhỡ nhàng. Dốc cao hơn, song vẫn đầy vết chân trâu, nên càng vững dạ – trâu còn lên được, chẳng lẽ người thua trâu(!).

Bụi rậm thưa dần và cỏ càng gần đỉnh núi càng “thân ngắn” như muốn né những trận cuồng phong bất chợt, chốc chốc ùa về, như thể khu rừng bừng tỉnh qua cơn “ngủ gật” chiều thu lãng đãng. Từng thảm hoa vàng mời mọc bước chân, đong đưa giữa sương giăng bàng bạc.

… và những đóa hoa ngộ nghĩnh

Và, ngạc nhiên chưa, tiếng ve dóng dả như gọi nốt khúc giao mùa. Cuối thu đầu đông, dưới phố ve đã nghỉ “chơi nhạc” từ lâu lắm. Còn trên núi, những con ve rừng to cồ cộ, thân màu đen láng, cánh trắng cũng điểm những vệt đen, đôi mắt vàng thô lố, có vẻ chẳng ngán gì gió lạnh. Sống tít trên cao này, không bị đứa trẻ nào nghịch ngợm bắt chơi, nên ve dạn lắm, người đến sát không thèm bay, bị tóm rồi thả ra lại đậu ngay gần, chỉ “ngoảnh lưng” ra điều ghét kẻ “quấy rối”…

Đỉnh núi bất ngờ hiện ra trong mây sương mờ ảo. Bãi cỏ thấp điểm xuyết mấy tảng đá cô đơn, khá quang đãng. Nếu gặp buổi đẹp trời, chắc view khá đẹp, nhưng hôm nay chưa đến duyên gặp biển mây, tầm nhìn chỉ vài chục mét.

Hên xui mà, cũng hài lòng với thêm một hành trình đến đích, hài lòng với trong trẻo tâm can vừa được núi rừng “gột rửa cẩn thận”, hài lòng với đôi chân chưa đến nỗi rã rời, hài lòng với cơn mưa thương tình tạm nghỉ cho lũ ham chơi tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc yên bình, khoáng đạt, mênh mang…

Lũ ve rừng không biết sợ người

Bóng tối nhá nhem giục gấp những bước chân quay xuống lán. Lần nào cũng vậy, nằm lán qua đêm giữa rừng hoang luôn là những giờ khoan khoái nhất, dẫu có lạnh xuýt xoa. Bếp củi rực than hồng như thắp tiếp ngọn lửa đam mê cuộc sống trong tâm trí sau những mỏi mệt chán chường thế sự. Lên núi, dẫu là thả sức cười đùa hay chỉ ngồi im bên bếp lửa, niềm vui đều đầy ắp, tự nhiên, nhẹ nhõm, chan hòa…

Mưa khuya lại khua giòn trên mái gỗ. Lập đông rồi mà mưa rào như thể hạ đang về. Ông bạn nằm bên chép miệng: “Mưa to thế này, mai trèo xuống tha hồ vồ ếch, khéo còn vất hơn leo lên”. Có thế thật, cũng qua nhiều trận dính mưa giữa rừng, ngấm đòn rồi. Nhưng lại tặc lưỡi, “khổ vì yêu còn hơn không được yêu” mà, có hạnh phúc nào không phải trả giá ít nhiều chứ?!

Và dẫu phải trầy trật vượt mưa rừng, vẫn còn những cây sơn tra trĩu trái chín đang chờ…

Nguyễn Việt