LÊN THƯỢNG NGUỒN SÔNG TUL – Bài 2: Ngược dòng tìm thác 74

Bình minh thượng nguồn sông Tul

Mắc võng nằm rừng, sướng thật đấy, cơ mà lạnh hết lưng. Tây Nguyên ngày nắng nóng mồ hôi đẫm áo, đêm lại buốt giá sương núi. 3h sáng, chịu hết nổi, phải bò dậy nhen lửa sưởi. Cả đội vẫn hồn nhiên “kéo gỗ”, chỉ có Mạnh cũng chui ra khỏi võng. “Thần rừng” mà chịu rét kém như “dân phố”? À không, cậu ta dậy sớm đi bẫy gà rừng.

Con gà mồi là của Sơn, nghe nói mua hết 800.000 đồng lận. Mạnh còn mê bẫy gà hơn cả Sơn, mới mò mẫm đêm hôm thế. Mạnh rảng giải: gà mồi cũng là gà rừng, thường là gà trống. Trong rừng, mỗi con gà trống đều có “giang sơn” riêng, thường ở các rừng le, rừng trúc. Thợ săn nghe tiếng gà rừng gáy, sẽ mang gà mồi lên buộc gần đó, đặt bẫy xung quanh. Khi gà mồi gáy, gà rừng tưởng có kẻ “xâm phạm lãnh địa”, sẽ lập tức ra “gây sự”, và dính bẫy. Mùa này gà rừng đẻ trứng, còn có thể bắt được lũ gà mái “sa chân lỡ bước theo tiếng gọi ái tình”.

Nghe cũng thú vị, tò mò đòi đi cùng, nhưng Mạnh gàn: “Anh không quen rừng đêm, gai cào nát mặt đấy, lại còn rắn rết, mà dễ gây động, gà rừng chạy mất. Tối mò thế này, đi chẳng nhìn thấy gì đâu. Với lại em buộc gà mồi xong cũng lánh một góc, nếu gà rừng dính bẫy sẽ nhảy kêu loạn lên, mới ra bắt.”

Con gà mồi giá 800.000 đồng của Sơn…

Đành ngồi sưởi vậy. Mạnh mặc bộ đồ ngụy trang như “đặc công thứ thiệt”, ôm gà mồi lủi vào rừng êm ro không một tiếng động. Còn lại một mình, khơi to đống lửa ngồi ngáp vặt. Đêm vẫn đen đặc, dậy sớm ngồi bên lửa ấm, mắt lại hiu hiu…

Bỗng nghe loạt soạt nhẹ bên bờ nước. Ô hay, không lẽ gà rừng cũng mò ra xem… lửa?! Căng mắt cố nhìn. Bóng con gà thấp thoáng giữa bụi sậy. Gà mồi thì Mạnh đã mang đi, con này đích thị gà rừng. Ngộ nữa là lơ láo nhìn ngọn lửa một lát, rồi con gà điềm nhiên quay lưng, mổ mổ mấy cái lá non.

Tim đập liên hồi như súng máy mà không dám thở. Rón rén trườn sát đất, nhích từng tí lại gần. Sương lạnh buốt mà mồ hôi túa đầy đầu. 3 mét, rồi 2 mét… gần quá! Bật người nhanh hết sức có thể, vồ một cú quyết định. Con gà bị tóm gọn, kêu quang quác thất thanh.

… và con “gà rừng” trong bụi sậy

Vừa kịp thở dốc với “chiến công bất ngờ”, bỗng chưng hửng… Một sợi dây dài buộc chân gà vào gốc sậy. Quái quỉ gì thế này???

Nghe ầm ĩ, đội “thần rừng” thức dậy cả. Một cậu ngạc nhiên: “Anh khua sớm thế? Để gà đấy em thịt cho. Hôm qua sợ kiếm được ít đồ ăn, mang con gà từ nhà đi cho chắc. Giờ nấu cơm, ăn no lấy sức leo lên thác. Hơn chục cây số khó đi lắm, chắc phải mất cả buổi.”

Nghe vụ vồ gà, cả đội cười sằng sặc đến phát ho. Cười rất đáng, bởi thợ săn chính hiệu cũng chưa nghe nói ai tay không mà vồ được gà rừng bao giờ… Chợt thấy tội nghiệp con gà, chắc mình làm nó sợ chết khiếp. Chẳng đạo đức giả đâu, gà ở nhà lên đĩa vẫn chén ngon lành, nhưng ngó con gà kêu thảm thiết trong tay, giờ chẳng nỡ… Thôi, ai ăn thì ăn, bữa nay mình “kiêng” thịt gà.

Thu lưới sau một đêm “ngâm” suối

Chẳng lo phải “ăn chay”, vì cái lưới ngâm suối cả đêm, sáng nhấc lên cũng đầy cá. Mấy con cá niên cỡ 3 ngón tay – “đặc sản đệ nhất sông Tul” – được kẹp que tre nướng thơm lừng. Mớ cá nhỏ hơn, cùng đám cá bống, thì nấu canh. Thêm “sự cố hy hữu” nữa của một “trai phố” khác, được sai ngắt lá bứa lại ngắt lẫn cả lá vối. Nồi canh cá vì thế “siêu độc đáo”, đủ cả vị ngọt béo của cá suối, cay của ớt, thơm của sả, chua của lá bứa và chát đến sít lưỡi của lá vối già…

7h30, bắt đầu hành trình tìm thác. Cứ ngược lòng sông mà leo thôi, níu gờ đá, đu cành cây, nhảy qua các vũng nước. Sông Tul mùa khô thu mình khiêm nhường thành mấy dòng chảy nhỏ, luồn lách qua vô vàn kẽ đá, cần mẫn gom nước từ các khe suối. Leo ngược lên cũng là leo về phía mặt trời đang cao dần. Trước cứ tưởng Tây Nguyên chỉ có Sêrêpôk là “dòng sông chảy ngược”, nay biết thêm sông Tul cũng vậy, nước tuôn về phía Tây.

“Gia làng” Lương dẫn đầu, giới thiệu: “Ngọn thác mình sẽ tới, đồng bào vùng này gọi là thác 74, theo tên lô rừng được đánh số. Tụi em thì gọi là thác 3 hồ, vì có 3 đoạn sông phình rộng sát nhau, chỉ cách một vách đá như “bờ ao” vậy. Nối giữa 3 cái hồ tự nhiên giống 3 bậc thang này là 2 ngọn thác đẹp lắm. Lên đó bơi thì đỉnh của đỉnh, dù cũng hãi vì hồ rất sâu, và phải tránh chỗ gần thác kẻo bị cuốn xuống hồ bên dưới. Đó cũng là nơi khởi nguồn sông Tul”.

Nồi canh cá “độc nhất vô nhị” nấu với lá bứa và lá vối

Nghe sướng tai. Nhưng trước mắt là hành trình đầy thử thách, cảm giác tất cả các bắp thịt toàn thân đều được “nếm mùi” vì phải căng người leo trèo liên tục. Nắng mỗi lúc một gắt hơn. Thoạt đầu còn khoan khoái ngắm mai vàng dưới nắng, hoa rực lên lộng lẫy. Càng ngược lên càng gặp nhiều gốc mai “khủng”. Có vài chỗ thấy dấu vết “lâm tặc” đào bới sâu hoắm quanh gốc mai, rồi đành bỏ cuộc, vì rễ ăn quá sâu dưới tảng đá lớn, không cách gì bứng cây lên nổi.

Hồi lâu, thấy anh em cứ tụt dần lại sau, Lương “già làng” quyết định bỏ lòng sông, quay lại đường mòn xuyên rừng, dù phải vòng xa hơn, nhưng dễ đi hơn nhiều. Rời thế giới của hoa mai và hoa sậy, lại lạc giữa “mê cung” những bãi lầy ven sông. Rừng khá rậm, len lách cũng khó. Bên những vũng sình lầy nước đọng, rất nhiều vết chân thú rừng. Rõ nhất là vết lợn rừng dũi, dầm mình trong vũng bùn nông. Có cả vết trăn bò trên bùn, to như cổ chân, nhẵn thín.

Lũ chồn sóc thỉnh thoảng lại thoáng thấy thoăn thoắt ngang cành cây, hoặc phi vào bụi loạt soạt. Bên lối mòn, phân chồn đầy rẫy, có cả lông chim lông gà rải rác từng đám – do lũ chồn ăn xong để lại.

Leo ngược giữa lòng sông đầy đá tảng

Đường mòn dễ đi, nhưng rừng rậm chắn hết gió, không mát như lối lòng sông. Rừng không nhiều hoa như bờ nước, chủ yếu chỉ thấy mẫu đơn rừng khoe sắc đỏ, có cả vài cụm mẫu đơn hoa trắng ít gặp. Bù lại, là những khóm lan rừng xuất hiện khá nhiều, khiến đội thợ rừng phấn chấn hẳn.

Cũng phải thôi, mấy ngày chơi rông, vợ con ai nuôi?! Tiện kiếm mớ lan, đỡ chi phí càng tốt mà.
Công Võ còn lượm được mấy cây nhỏ xíu với những nụ hoa bé xinh. Loại lan này đội “thần rừng” bỏ qua, vì không ai mua, nhưng Công cho biết đó là loài địa lan đặc hữu, chỉ có ở Việt Nam, mọc nhiều ven các suối từ thác K50 bên huyện K’Bang về tới sông Tul thuộc huyện Ia Pa của tỉnh Gia Lai…

Cuốc bộ gập ghềnh trong nắng khô hanh, mồ hôi tong tỏng, khát đến khô nẻ cả môi. Đi một lúc, mấy anh em “thần rừng” lại phải vòng trở lại sông để lấy thêm nước. Mấy hôm “sinh tồn” trong rừng, nếu có chị em chắc sẽ được uống nước đun sôi, còn một lũ đàn ông với nhau, cái gì cũng đại khái, cứ nước lã ừng ực, may toàn những thằng “tốt bụng”, chưa hề hấn gì.

Mai rừng vẫn nở vàng bên suối

Chính ngọ mới đến thác 74. Hơi tiếc, vì chọn leo đường vòng, nên phải tiếp cận thác “từ trên xuống”, không ngắm được toàn cảnh 2 tầng thác với 3 cái “hồ”. Nhưng cảnh đã đẹp mê ly. Giữa vạt rừng hoang, sừng sững cả bãi đá lớn, tảng nào cũng to như tòa nhà, láng mịn sắc thời gian ngàn tuổi. Nước tuôn trào từ trong đá, reo vui đổ xuống khe sâu. Đỉnh điểm mùa khô, rừng dọc đường vàng úa cả, nhưng vạt rừng trên cao này vẫn xanh um.

Thượng nguồn sông Tul góm đủ cả hoang vu đại ngàn và hào sảng tráng lệ. Thác dạt dào sóng sánh, lấp lánh dưới nắng chói chang. Núi trầm ngâm sừng sững gọi mây vờn. Vài cây mai rừng như mọc lên từ đá, kiêu hãnh bung hoa vàng bên bờ vực thẳm. Rễ cây chắc phải dài tới cả trăm mét, may ra vươn tới chỗ có nước, xuyên kẽ đá thành kỳ tích tự nhiên.

Từ đỉnh thác xuống cái “hồ” đầu tiên, chắc cũng cỡ mấy chục mét, thẳng đứng, muốn trèo xuống chỉ còn cách đu cành cây như khỉ vượn. Làn nước xanh kỳ ảo, hấp dẫn mà cũng rờn rợn vì thoạt nhìn đã biết là sâu lắm. 2 cái “hồ” thấp hơn thì chỉ ngó được một phần. Bụng bảo dạ, nếu có lần sau, nhất định leo ngược lòng sông đến cùng, để ngắm cho thỏa…

Nơi khởi nguồn sông Tul

Chẳng trách mấy anh em Lương, Lĩnh… dù đã lên đây vài lần rồi, vẫn mê lắm. Hễ có anh em nào ở xa đến Phú Thiện chơi, mà có “nhu cầu hành xác” là đội này sẵn sàng hành quân ngay.

Hội “thần rừng” cứ leo lưng chừng vách đá rồi buông tay như “trái rụng” xuống mặt nước. Khoái gấp trăm lần nhảy cầu trong bể bơi. Không chỉ vì khung cảnh hùng vĩ, mà còn bởi nước mát như chảy từ tủ đá. Chơi “cảm giác mạnh” thế, nhưng không gã nào dám bơi lại gần cái “bờ hồ” như “hàng rào đá” tự nhiên, có vẻ “mong manh” bên thác, chẳng biết sẽ “bục” lúc nào.

Nghịch nước hò hét vang rừng thỏa thích, mà chốc chốc vẫn “lấm lét” liếc xung quanh. Cái tội “dọa ma” của Lương “già làng” đấy. Gã cam đoan, cá ở cái vực hoang này có con phải trên 20 kg. Cỡ ấy mà tò mò thử “món lạ” thì cũng coi chừng! Hãi hơn, lần trước lên đây, Lương đã lượm được cái da rắn lột dài tới 5 mét, đoán là của rắn hổ chúa. Gã chỉ vào góc rừng gần thác, bảo cái hang rắn ở đó, nhưng không ai có “hứng thú” khám phá…

Một góc thác nhìn từ trên đỉnh

Chơi hồi lâu, ngấm lạnh, đói run người. Ngó điện thoại, thấy quãng đường cuốc bộ từ điểm “cắm trại” lên trên này hơn 12 km, riêng quãng leo trèo ở lòng sông đã tương đương 120 tầng. Làm gì chẳng đói mệt!

Hành trang gọn nhẹ nhất có thể, bữa trưa mỗi thằng chỉ 1 gói mì tôm, mà cũng chẳng nồi niêu gì ráo. Sao phải nồi? Đội “thần rừng” thoăn thoắt đẵn cây le, chặt mấy ống, đổ nước suối, gom củi khô nhóm lửa. Đợi nước sôi, có 2 lựa chọn để nấu mì: đổ luôn nước trong ống vào gói mì, hoặc chẻ ống khác làm “máng ăn”. Cách nào thì cũng húp hết cả cặn, thấm thía “một miếng lúc đói”.

Ăn xong, kiếm tảng đá nhẵn dưới bóng cây ngả lưng. Gió mát quạt hầu, mai vàng trước mặt, suối hát dưới chân… Lương “già làng” hỉ hả: “Khoái không anh? Liệu lần tới em rủ, anh còn muốn vào đây nữa hay thôi?”. Đi ngay chứ, hỏi lạ!

Độc đáo “hồ bơi” trên núi

“Hùng hổ” vậy, nhưng ngủ dậy, nghĩ đến bêu nắng 12 km quay lại chỗ mắc võng, chân bỗng nặng trĩu. May quá, Sơn ở đâu mò ra, cười khì: “Anh ráng qua cánh rừng kia thôi, đến đường mòn lên xe máy em chở.” Còn hơn bắt được vàng! Hội rừng rú này chu đáo thật! Mà giỏi nữa, đưa được xe máy lên tuốt trên này. Không có xe, chắc tối mịt mới lết về đến “trại”.

Tất nhiên, hạnh phúc luôn phải trả giá(!). Đường chẳng ra đường, ngồi xe căng thẳng, vừa lo ngã vừa hãi cành cây quật vào đầu. Xóc đến buốt óc. Tay bám xe mỏi rã. Mà rồi vẫn ngã. Sơn nhắc: “Anh phải ngồi thật im, như bao tải cát cho em. Xe loạng choạng cũng đừng chống chân, lỡ đạp vào chân em, càng khó. Cứ để em xử lý!”… Làm theo, lại ngã tiếp, xe chổng bánh, người chổng vó, giày mắc vào xe, mãi mới bò dậy được. Không nhớ nổi ngã bao nhiêu lần.

Sơn vẫn nhe nhởn cười mỗi lúc lóp ngóp dựng xe. Đến chịu!… Cậu ta tên đầy đủ là Bùi Văn Sơn, người Mường, quê gốc ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Mẹ mất từ lúc Sơn mới hơn 1 tuổi, nhà nghèo đến tấm ảnh không có, lớn lên không biết mặt mẹ. Bố lấy vợ khác, rồi đi làm ăn xa. Ở nhà với dì ghẻ, chú bé Sơn không được đến trường như chúng bạn, mà phải đi mót khoai kiếm ăn. Bữa nào mang nhiều khoai về, dì ghẻ mới cho ăn cơm, không thì chịu đòn roi thay cơm. Lớn chút nữa, phải đi chăn trâu thuê cho người ta, mà mỗi lần về nhà vẫn bị đánh mắng.

Nấu ăn đúng kiểu “sinh tồn”

Chịu không thấu, 12 tuổi, Sơn một mình bỏ vào Tây Nguyên tìm người chú ruột. Chủ trâu giúp cho ít tiền đi đường. Đến nơi, gặp chú rồi, Sơn lại… đi chăn bò tiếp. Đến lúc choai choai, cậu ta “thử thời vận”, mò sang Quảng Nam đào vàng thuê cho “bưởng”. Hơn một năm, chẳng thấy vảy vàng nào, Sơn lại dạt về Gia Lai, gặp anh em Lương – Lĩnh, theo nghiệp luồn rừng kiếm sống.

Đến giờ vẫn không biết chữ, Sơn cứ theo “đàn anh”, bảo gì làm nấy. Có lần, Sơn lên núi tìm phong lan, nhóm tiếp tế bị kẹt lại phía sau do hỏng xe. Một mình giữa rừng, đói khát, vớ được vũng nước đọng, Sơn cứ thế uống đẫy bụng. Và… “ngã nước”. Cơn sốt ác tính quật Sơn gục xuống, may anh em lên kịp, cõng chạy tháo khỏi rừng, nhập viện thập tử nhất sinh. Cánh thợ rừng tình nghĩa thâm sâu, gom mấy chục triệu đồng giúp Sơn giành giật sự sống. Nằm bệt cả tháng, khỏi bệnh rồi lại nhúc nhắc mò vào rừng…

Câu chuyện ngắt quãng bởi những lần… xe đổ, người ngã, có lúc khách phải xuống cuốc bộ qua đoạn dốc thẳm, hoặc phụ “xế” khênh xe qua khúc suối sâu. Những cũng nhờ vậy, quãng đường “khủng” như ngắn lại. Cuối giờ chiều, rã rời toàn thân, thấy lại cánh võng treo bên cây bứa và cây vối mà ngỡ “chẳng còn gì đẹp hơn thế”(!)

Bùi Văn Sơn và bộ đồ ngụy trang để bẫy gà rừng

Lại đong đưa thư thả ngắm hoàng hôn dần nhuộm tím tán rừng. Lại bếp lửa vun lá khô vùi nồi cá niên kho thơm sực. Lại một đêm mênh mang sao khuya đặc kín trời… Sông Tul hào phóng không để khách qua đường bị đói. Đại ngàn Tây Nguyên kỳ bí và nên thơ, chẳng thiếu bao dung dẫu gập ghềnh lối lên nguồn.

“Cuộc sống hôm nay tuy vất vả – Nhưng cuộc đời ơi ta mến thương”… câu hát cũ chợt văng vẳng, chẳng biết là tiếng lòng hay đám “thần rừng” cao hứng ngâm nga hào sảng bên đống lửa ấm sáng một góc rừng hoang…

Nguyễn Việt

Loài lan đặc hữu, chỉ có ở Gia Lai

Khai thác lan rừng

Cây mai mọc giữa kẽ đá khô cứng vẫn đầy hoa rực rỡ

“Già làng” Đinh Công Lương bên “thác 3 hồ”

Món quà hào phóng từ sông Tul

Tháng 3, hoa nở khắp rừng Tây Nguyên

Thượng nguồn sông Tul giữa trập trùng Tây Nguyên đại ngàn