LÊN THƯỢNG NGUỒN SÔNG TUL – Bài 1: Rừng mai vàng bên suối

Theo google, Ea Thul mới là tên “chính thức” của dòng sông nhỏ chảy qua huyện Ia Pa (tỉnh Gia Lai), một phụ lưu trong hệ thống sông Ba. Còn dân bản địa vẫn gọi sông Tul, chắc bởi sông khởi nguồn từ các suối ở xã Ia Tul. Mà theo ngôn ngữ Tây Nguyên thì Ia hay Ea hoặc Đăk đều có nghĩa là nước, sông, suối. Đắk Tul lại là tên một dòng sông khác, chảy qua các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk.

Thông tin mù mờ thế, không có “thổ địa” dẫn đường thì bó tay. Võ Văn Công và Đinh Công Lương – 2 “thần rừng” chuyên mò mẫm tầm phong lan chốn đại ngàn Tây Nguyên, cứ luôn miệng “quảng cáo” thượng nguồn sông Tul là “nơi đẹp nhất Gia Lai”. Được lời hứa “anh vào là tụi em bố trí đi ngay, mấy ngày cũng được”, cứ ngỡ hành trình đơn giản, hóa ra lại “hành xác” ra trò.

Phóng xe máy từ Tp. Pleiku theo đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14) đến huyện Chư Sê thì tạt qua Quốc lộ 25 để về huyện Phú Thiện. Thời Việt Nam cộng hòa, tuyến này gọi là Đường số 7. Tháng 3/1975, sau khi quân Giải phóng chiếm Buôn Ma Thuột, chính quyền miền Nam lúc đó rút quân khỏi Tây Nguyên theo lối này. Các sĩ quan, binh sĩ VNCH cùng công chức chính quyền Kon Tum, Pleiku bỏ đơn vị, bỏ nhiệm sở, kéo cả gia đình “di tản”. Bị chặn đánh và pháo kích, cuộc “rút lui chiến lược” biến thành “thảm họa Đường số 7”.

Đường lên thượng nguồn sông Tul

“Không ai biết chính xác số người thiệt mạng, mất tích. Đến tận bây giờ, lâu lâu vẫn nghe đồn ở đây có người lượm được hộp đạn súng máy chứa tiền, vàng của người chạy loạn thời đó giấu nơi khe suối” – Công Võ kể rồi cười ha ha – “Số anh em mình chắc không gặp vàng đâu, nhưng mùa này vô rừng chắc chắn mai vàng vẫn còn nở bên suối đẹp lắm anh!”.

Háo hức muốn “chiến luôn”, mà nhóm “thổ địa” vẫn nhẩn nha ở huyện Phú Thiện, gói ghém đồ nghề và lương thực, mua thêm lưỡi câu với lưới. “Vô đó kiếm được gì ăn nấy đó nha anh” – Trưởng đoàn Lương “thần rừng” bảo thế, rồi lắc đầu ngó chiếc xe máy phanh đĩa của Công Võ: “Xe này không lết nổi đâu, thế nào cũng xòe. Tốt nhất anh ngồi sau xe “lâm tặc” của tụi em cho chắc”.

Nhân bảo như thần bảo. Cố “giữ nguyên đội hình” một lúc, xe của Công Võ đổ xoài, hai anh em mỗi đứa “xơi” nguyên nắm cát, trầy đầu gối. “Trả học phí” rồi, đổi sang ngồi con Win dã chiến của Lĩnh – em trai Lương, được đồng đội tôn xưng “tay lái cứng nhất rừng sông Tul”. Vậy mà chạy một quãng lại xòe tiếp, người văng giữa bụi rậm, gai cào đau điếng.

Nụ cười của Công Võ sau cú “xòe” xơi nguyên nắm cát

Không trách ai được, bởi cung đường quá khủng. Đoạn qua làng thì đất pha cát khiến bánh xe cứ lạng đi, trượt dài trong đám bụi mờ mắt. Mỗi lần gặp xe công nông của bà con chở mì (sắn) từ rẫy trong rừng ra, nếu không lùi thì chỉ còn biết ủi xe vào bụi mà tránh.

Chốc chốc, một vũng nước lớn lại chặn ngang đường, không sâu lắm nên cứ phi xe ào qua. Khúc suối nào xiết, chỉ có cây gác lên đá làm cầu, người ngồi sau phải xuống xe, để xế lái qua thân cây rung bần bật. Vào sâu hơn, đường hẹp dần và toàn thùng vũng lẫn đá hộc, trồi lên hụp xuống liên tiếp, không muốn xuống rãnh thì phải phi xe lên cái “sống trâu” bề ngang chỉ cỡ gang tay, muốn nín thở.

Đinh Công Lĩnh động viên: “Mình đi chậm, có ngã cũng không đau nặng anh ạ. Chuyến trước có anh phóng nhanh, xe trượt bánh phi vào vách đá, toạc đầu gối, phải khâu mấy mũi”. Bảo ngã “nhẹ”, nhưng xe nào cũng trầy trụa, thậm chí vỡ đèn, cháy phanh vẫn phải lò dò đi tiếp.

Chiếc xe “lâm tặc” được độ thêm rất nhiều giảm xóc

Chừng thấy khách được động viên mà còn căng thẳng hơn, Lĩnh xoay qua kể chuyện rừng, “vào sở trường” thao thao cả ngày chẳng hết. Gia đình Lương – Lĩnh (sao không phải Lĩnh – Lương nhỉ?!) gốc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Bố vẫn ở ngoài đó. Mẹ thì vào Tây Nguyên trông nom 3 ha sắn. Làm cực lắm mà sắn khô chỉ bán được cỡ 3.700 – 4.000 đ/kg, may ra lấy công làm lãi. Nhà 5 anh chị em, 2 chị đi lấy chồng xa, 1 anh định cư bên Nhật vài năm mới đảo về, còn 2 cậu út Lương và Lĩnh chuyên bám rừng mà sống.

Nghiệp tầm phong lan đầy cay cực và nguy hiểm. Giống lan đẹp, lan quý, thường mọc chốn rừng sâu, chót vót ngọn cây, cheo leo bờ vực. Anh em “ăn lông ở lỗ” giữa rừng cả tuần liền là thường. Leo trèo hái lan, không ai dám mạnh mồm, nguy cơ ngã gãy xương luôn rình rập. Có lần Lương đạp phải con rắn độc màu như lá khô, cả đội chạy tháo ra đưa đi cấp cứu, may còn kịp.

Lấy được lan rồi, mang về đến nhà cũng bở hơi tai. Chiếc xe máy “lâm tặc” được độ các kiểu, gắn tới 10 cái giảm xóc, cũng chưa nhằm nhò gì với đường rừng, nhiều lúc phải đẩy hoặc khênh vượt suối. Vậy mà giò lan “khủng” nhất anh em vác về, nặng hơn 15 kg, cũng chỉ bán được 5 triệu đồng. Phần nhiều chỉ được lan “tạp”, bán không theo cây mà theo ký, tối đa 200 ngàn đồng/kg.

Mỗi bước đều gập ghềnh

“Vẫn phải làm thôi anh, không thì lấy gì nuôi con” – Lĩnh cười hiền. Đội săn lan đều lấy vợ sớm. Như Lĩnh, cưới từ năm 18 tuổi, giờ mới 25 mà con lớn đã vào lớp 1, đứa nhỏ thì 16 tháng.

Có dạo, anh em khấm khá nhờ lấy mai rừng về bán cho các “đại gia phố núi”, mỗi cây mai cổ thụ có thể được vài chục triệu đồng. Nhưng món này giờ Kiểm lâm quản chặt, bắt được là phạt nặng lắm. “Mai phải bứng cả gốc, thành phá rừng rồi, không như phong lan là giống tầm gửi, sống nhờ cây khác, mình lấy không phải chặt cây, nên không bị cấm. Với lại cũng hên xui, có lần tụi em hì hục đào, khênh cây mai nặng nửa tạ về đến nhà thì nó chết, uổng lắm! Từ đó anh em chỉ lấy lan thôi” – Lĩnh kể.

Vui chuyện, vào sâu tuốt giữa rừng hoang lúc nào không hay. Đường thắt hẹp và dốc dựng cao vút, xe “bốc đầu”. Lương “thần rừng” khoát tay: “Từ chỗ này xe chỉ đi 1 người được thôi. Anh em ngồi sau xuống leo bộ nhé, tạt xuống suối mà đi ngược lên, không lo lạc đâu”.

Lán của thợ rừng

Chỉ cách nhau vài trăm mét mà cảnh rừng khác một trời một vực. Dọc đường mòn, Tây Nguyên đang cao điểm mùa khô, cây cối vàng khè dưới nắng lửa, loang lổ những đám cháy vết còn mới, tro than ngập giày ấm sực. Nhưng bên bờ suối, nhờ nguồn nước trong lành, cây vẫn xanh um, mát lịm.

Và kia, rừng mai vàng dù sau tết hơn 1 tháng vẫn đang độ rực rỡ nhất. Vô số gốc mai vươn lên từ kẽ đá, xòa cành trên mặt nước cho muôn đóa hoa vàng rung rinh đón gió, duyên dáng soi gương. Nước trong vắt in bóng hoa, lắm chỗ ngỡ sắc vàng đang tuôn chảy. Hầu hết là loại hoa mai cánh đơn, mỗi đóa xòe 5 cánh cứng cáp, nhiều cành hoa nở dày che kín lá. Có những gốc mai to cỡ bắp đùi, gân guốc đẩy bật cả đá để vươn cành.

Có rừng mai bên suối, quên cái mệt rã rời dưới nắng xối, cứ mải miết trèo. Làm gì có đường đâu, mùa khô nên sông Tul chỉ còn như suối nhỏ, mới đi được dưới lòng sông đầy đá tảng – những chỗ vào mùa lũ sẽ toàn thị thác ghềnh hung dữ. Đúng nghĩa “không dấu chân người”.

Xe công nông chở sắn ra khỏi rừng 

Rừng thẳm bao la. Điện thoại mạng nào cũng tịt mít, xếp xó cả 3G với 5G. Chỉ còn tiếng chim bồ chao xao xác ngọn cây. Bồ chao được mệnh danh là loài “gác rừng”, hễ nghe tiếng lạ sẽ lập tức “báo động” để muôn loài cảnh giác. Thỉnh thoảng có tiếng gà rừng gáy le te trong bụi, khá gần. Công Võ bảo: “Bắt đầu vào mùa gà rừng đẻ trứng rồi. Tụi nó gọi nhau hẹn hò đó”.

Mò mẫm đến gần 4h chiều thì tới điểm cắm trại. Gọi “trại” cho oai, chứ chỉ trơ bãi cát ven sông, dưới bóng vài cây không cao lắm. Trưởng đoàn Đinh Công Lương – được anh em tôn xưng “già làng” dù mới 28 tuổi – giải thích: “Chọn chỗ này bởi suối rộng như ao, mình vừa thả lưới bắt cá vừa tắm giặt được. Ngủ rừng phải chọn mắc võng dưới cây nhỏ, ít lá thôi, vì đêm cây hút hết oxy, nếu ngủ dưới cây to sáng dậy mệt lắm. Có ngọn thác nhỏ, rửa bát rất tiện, đêm lại róc rách ru ngủ. Ngay cạnh bãi cát cũng có cây mai, tha hồ chụp ảnh. Lại có cây bứa và cây vối mọc canh nhau. Nước lá vối rừng uống đã lắm. Còn ngọn bứa, đợi tụi em bắt cá suối nấu canh cho anh nếm, đảm bảo quên sầu!”

Giờ mới ngó lại đội hình, hóa ra “hùng hậu” phết! Nhóm thợ rừng “dưới trướng” anh em Lương – Lĩnh có Sơn, Mạnh, Toại, Tùng. Nhóm khách thêm Quân – trưởng công an xã mà mê phượt rừng “như thật”, cùng Huy – chàng lãng tử Kon Tum lần đầu đi “sinh tồn”, diện cả quần bò với áo trắng.

Thỏa thích ngắm mai vàng bên suối

Quăng quật suốt ngày, chỉ lót dạ vài mẩu bánh, giờ đói ngấu. Vục mặt xuống suối cho tỉnh, rồi anh em tăm tắp mỗi người một việc. Lương chặt ống le làm ly, làm đũa. Mạnh và Toại thả lưới dọc suối. Tùng hái lá vối đun nước uống, đặt luôn nồi cơm. Sơn gom củi khô, vần mấy hòn đá làm bếp và làm ghế ngồi.

Công Võ buộc võng xong, ngoắc nhóm khách đang lóng ngóng chưa biết làm gì: “Để tụi nó lo, anh em mình không quen việc, chỉ vướng chân thôi. Ra bơi cho đã đời rồi mò ốc, tối nhậu.” Lũ ốc suối không to nhưng béo mập, bám kẽ đá khá nhiều. Mò sơ sơ quanh trại chừng nửa giờ, mỗi thằng đã xách cả bịch ốc. Vớ thêm con cua đá cỡ lòng bàn tay, cùng mấy chú tôm suối.

Cá bơi từng đàn, nhanh thoăn thoắt, mà buông câu không dính, đành đợi nhấc lưới. Tổ kiến trên cây to đùng, trứng kiến đặc sản này Hà Nội bán 500 ngàn đồng/ký. Nhưng “già làng” Lương gạt đi: “Em không khoái kiếm đồ ăn kiểu đó. Được mấy miếng mà phá cả nhà của tụi nó, chẳng nên!”. Ái chà, bảo kiếm được gì ăn nấy mà “kỹ tính” gớm, nhưng có lý. Đi với lũ “thần rừng”, chắc còn nhiều món khác, lo gì đói, thôi tha cho lũ kiến vậy. Với lại còn ít rau thịt mang từ nhà nữa.

Đầu tháng 3, mai rừng vẫn đang độ rực rỡ nhất

Loáng cái, tiệc rừng đã sẵn sàng, thơm nổ mũi. Cơm nấu nồi gang bếp củi, cháy giòn rụm đóng xung quanh như vỏ bánh, chỉ chấm muối đã ngon ê lợi. Canh bí nấu cua đá ngọt lịm. Thịt heo xào sả ớt cay nồng. Thêm món tôm suối xiên que nướng. Ai thích tí men đã có rượu ngâm đẳng sâm. Không hảo rượu thì chiêu nước lá vối rừng. Khoái thế, chuyện như pháo ran mà ăn rào rào đến “thủng nồi trôi rế”, căng rốn phình bụng.

Sướng nữa là được ăn cơm “sơn tràng” khi hoàng hôn nhẹ buông bên suối, trong tiếng gió vi vu hòa tiếng thác rì rào. Những cánh mai vàng chấp chới hứng chùm nắng nhẹ cuối ngày, sắc vàng đậm đà hơn như quyến luyến chưa muốn tạm biệt vầng dương, dẫu chỉ sớm mai lại gặp.

Bên bờ suối và ở những kẽ đá giữa lòng sông Tul, vô vàn hoa sậy tím nhỏ xinh cũng rung rinh khiêm nhường soi bóng nước. Vùng này có hai loại hoa sậy ưa mọc sát nước. Một loại hao hao tựa hoa lan “nắp ấm”, tím mơ màng. Loại kia thì nở xòe như ngôi sao 5 cánh, phần giữa tím đậm, còn cánh chỉ phơn phớt tím.

Rất nhiều hoa sậy khoe sắc trong nắng

Cơm xong, mảnh trăng vừa nhú lên cuối rừng. Thư thả đưa nhè nhẹ võng, ngả ngớn ngắm ngàn sao qua vòm lá, tận hưởng tĩnh tại thanh bình giữa tinh khiết hương rừng. Gió mát trăng thanh sau một ngày mệt nhoài, mắt díp lại nhưng chưa ngủ được vì hội trẻ tụ tập chơi bài bên đống lửa, hò hét vang góc rừng.

Vài cậu vẫn “thừa năng lượng” thì bật đèn pin mò ra khe suối soi cua, tìm ếch. “Già làng” Lương ngồi né một góc, ôm cây sáo bầu trứ danh. Gã thổi có hồn lắm, nhạc nào cũng chơi được, hết hùng tráng quân hành đến rên rỉ nhạc sến, rồi lại sâu lắng tình ca.

Chơi chán rồi, lại nhớ ra món ốc. Mấy túi ốc suối dồn lại, rửa sạch, chặt đít, xào cả vỏ với sả ớt và nước mắm, làm món ốc hút. Ôi chao là thơm! Những con ốc béo căng, đầy trứng mềm, thịt giòn ngấm gia vị đậm đà thật hấp dẫn. Tiệc khuya xì xụp, xôm ra trò. Bình thường chẳng khoái ốc ếch gì, thế mà vào đây “hòa nhập cộng đồng”, chén sạch nhẵn còn mút tay thòm thèm.

Tiệc rừng bên suối

No quá, phải ngồi dựa gốc cây. Công Võ kéo ra chỗ khác: “Anh đừng ngồi đó, nhiều kiến lắm. Em lại vừa nghe tiếng huýt gió, chắc trên cành có rắn lục. Đêm rừng, mình đốt lửa ấm và sáng, rắn hay mò lại gần đấy”. Cẩn thận rọi đèn xung quanh, khua gậy tứ tung, nhưng không thấy động tĩnh. Thôi kệ, mình không làm gì rắn, chắc nó chẳng động tới mình…

Một ngày đầy trải nghiệm và nhiều hương vị, khiến mình thành người khác hẳn, cứ như được gột rửa từ trong ra ngoài, thanh thoát nhẹ nhõm lạ lùng. Nằm trong rừng hoang, cánh võng đơn sơ, nghe côn trùng rì rầm lẫn tiếng thác. Bình yên như thể mình thuộc về nơi đầu non nguồn suối quấn quýt đại ngàn.

Nếu nghĩ theo “lối thường”, chắc không thể hiểu nổi lý do gì phải trèo đèo lội suối vào tuốt trong này, chỉ để “gối gió nằm sương”?! Nhưng sao lại không nhỉ? Mấy khi trong đời có dịp qua đêm giữa cả rừng mai vàng…

Nguyễn Việt