Làng “cá bình dân” bên hồ Ea Kao

Thuyền độc mộc trên hồ Ea Kao

Xã Ea Kao được coi là vùng nuôi cá thương phẩm trọng điểm của thành phố Buôn Ma Thuột cũng như của cả tỉnh Đắk Lắk, cung cấp cho thị trường khu vực trên dưới 3 tấn cá mỗi ngày. Tuy nhiên, vì rất nhiều lý do, phần lớn các hộ nuôi ở đây vẫn chưa thể lấy ao cá làm nguồn thu nhập chính.

Người Ê Đê gọi cái hồ lớn cách thành phố Buôn Ma Thuột 12 km là Ea Kao, mang nghĩa hồ nước không bao giờ cạn, hồ nước dâng cao hay vùng núi có vực nước sâu. Với diện tích tự nhiên khoảng 66 ha, hồ gồm hai khu vực chính. Từ Quốc lộ 14 rẽ vào theo đường Y Wang khoảng 8 km là đến con đập bao quanh một phần hồ không rộng lắm giữa hai eo núi, nhưng men theo bờ hồ một quãng lại thấy mặt nước mở ra mênh mông.

Với trữ lượng nước hàng năm 16 triệu khối, hồ Ea Kao phục vụ tưới tiêu cho 580 ha lúa nước ba vụ và 1.670 ha cà phê, cũng như cung cấp nước sinh hoạt và nuôi thủy sản cho các buôn thôn trong khu vực.

Đây là nơi tập trung sinh sống của đồng bào Ê Đê trong các buôn làng ven hồ như buôn H’Ve, buôn Huê, buôn Cư Mblim, buôn Tơng Ju… Tuy nhiên, nghề nuôi cá trên cao nguyên lại “du nhập” từ miền Bắc vào, theo chân những người “đi làm kinh tế mới” hơn 30 năm về trước.

Anh Trần Văn Chí ở thôn 1 xã Ea Kao cho biết: “Dân Bắc vào đây lập nghiệp phần nhiều gốc ở Thái Bình, Thanh Hóa. Gia đình tôi trước ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, vào từ năm 1982 theo phong trào kinh tế mới và bắt đầu nuôi cá ngay, như một cách dự trữ thực phẩm tươi tự túc. Nhiều nhà khác cũng thế, việc nuôi cá mãi sau này mới mang tính chất thương mại”.

Ao nuôi cá mè, trắm cỏ của gia đình anh Trần Văn Chí

Từng đọc vài bài báo viết về nuôi cá trên hồ Ea Kao, nghe có vẻ quy mô hoành tráng lắm, nhưng đi vòng quanh hồ chỉ thấy duy nhất 1 bè nhỏ với vài ô lồng khiêm tốn? Anh Chí cười hiền: “Hồ Ea Kao nổi tiếng, nên nhiều người lầm tưởng là cá nuôi trong hồ, thực ra chủ yếu là nuôi ở các ao gần hồ thôi. Trước cũng có một số người nuôi cá trong lòng hồ, nhưng rồi lại rút dần về ao vì ở đây nuôi ao hiệu quả hơn nuôi hồ”.

Chị Lê Thị Hằng, vợ anh Chí, là lao động chính chăm đàn cá, trong khi anh làm rẫy trồng cà phê. Chị Hằng kể, cao nguyên đất rộng, chỉ cần bỏ sức đào ao là nuôi cá được, còn làm lồng bè nuôi cá trong hồ thì rất tốn kém. Thêm vào đó, không hiểu vì môi trường sống hay là nhiệt độ không phù hợp, mà cá nuôi ở hồ lại chậm lớn hơn nuôi trong ao(?)

Cả thôn 1 toàn dân gốc Bắc, nhà nào cũng trồng cà phê và nuôi cá, nhưng cà phê vẫn là nguồn thu nhập chính. Diện tích ao nuôi tập trung nhiều nhất ở thôn 4, với 80 hộ sống bằng nghề cá. Theo ông Nguyễn Đức Hạnh – Trưởng thôn 4 – không kể cái hồ lớn, xã Ea Kao còn có trên 70 ha ao, thì riêng thôn 4 hiện có 60 ha mặt nước nuôi cá thương phẩm.

Nghề nuôi cá ở đây từ lâu góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại chỗ. Tuy nhiên, những hộ giàu ở thôn 4 cũng chủ yếu nhờ cây cà phê, tương tự thôn 1, dù họ có mặt nước rộng hơn, nuôi nhiều cá hơn. Vậy đâu là nguyên nhân?

Theo tính toán của chị Lê Thị Hằng, với hơn 4 sào ao của gia đình, nuôi cá rô phi, mè, chép, trắm cỏ… mỗi lứa khoảng 4 – 5 tháng là có thể thu được từ 7 – 8 tấn cá, bán được vài trăm triệu đồng. Mỗi năm nuôi hai lứa cá thì doanh thu không phải nhỏ. Thoạt nghe “hấp dẫn” thế, nhưng hầu như nhà nào cũng chỉ dám nuôi mỗi năm 1 lứa cá, do chi phí đầu vào đắt đỏ, trong khi đầu ra lại bấp bênh.

Quăng chài bắt cá ven hồ

Thiếu vốn đầu tư nuôi cá, rất nhiều hộ ở xã Ea Kao phải “mua chịu” của các đại lý thức ăn chăn nuôi, chịu lãi suất 5%/tháng. Trong khi đó, giá thu mua cá ở đây lên xuống rất thất thường bởi thương lái thao túng, họ nhắm vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người nuôi để áp giá tùy tiện, chuyện bắt chẹt để mua giá thấp khá phổ biến.

Cái vòng luẩn quẩn: thiếu vốn, không dám nuôi lâu vì chi phí thức ăn cho cá cao, muốn bán nhanh để trả tiền “mua cám chịu” thì lại bị dìm giá, khiến nghề cá ở Ea Kao vẫn bấp bênh, người nuôi cá chỉ lấy công làm lãi. Thực tế đó khiến không ai yên tâm để chuyên theo nghề nuôi cá, nhà nào cũng phải trồng thêm lúa, hoa màu, cây công nghiệp.

Cũng đã có ý tưởng về việc tập hợp những hộ nuôi cá thành một tập thể kinh tế, tổ chức làm ăn tập trung, khép kín và chủ động từ khâu nuôi thả cho đến tiêu thụ sản phẩm… nhưng mỗi người mỗi ý, mãi chưa thống nhất được cụ thể.

Vài năm trước, một số người dám nghĩ dám làm đã tính chuyện “nâng cấp thương hiệu” cho nghề cá ở Ea Kao, bằng cách chuyển hướng sang nuôi cá đặc sản. Đối tượng được nhắm đến là cá lăng đuôi đỏ, và người tiên phong là anh Nguyễn Minh Tuấn ở thôn Cao Thành.

Năm 1990, anh Tuấn rời quê nhà Hải Hậu (Nam Định) vào lập nghiệp ở Buôn Ma Thuột. Trải qua nhiều nghề nhưng cuộc sống vẫn trầy trật, anh tìm sang Đồng Nai làm thuê cho một cơ sở nuôi cá lồng bè ở hồ Trị An để học nghề suốt 3 năm. Trở lại Đắk Lắk, anh Tuấn đóng 10 cái lồng trên hồ Ea Kao, trong đó 3 lồng nuôi cá lăng, còn lại nuôi cá rô phi và điêu hồng.

Buổi chiều, rất đông cần thủ tập trung ở lòng hồ

Thời gian đầu cá phát triển tốt, nuôi hơn 1 năm đã đạt 2 kg/con. Cá lăng thời điểm đó đã bán được gần 200.000 đ/kg. Một số người học theo, đầu tư sang nuôi cá lăng đuôi đỏ, tiêu biểu như ông Vinh ở thôn 1. Riêng anh Tuấn, vào lúc cao điểm có 40 lồng nuôi cá lăng trên hồ Ea Kao, gồm cả cá thương phẩm và cá giống.

Năm 2012, làng nuôi cá ở Ea Kao đã có tỷ phú, với 46 tấn cá nuôi trong lòng hồ được thu hoạch, trị giá gần 7 tỷ đồng.
Không những thế, việc nuôi cá lăng còn góp phần hạn chế sự phụ thuộc của người nuôi vào các đại lý thức ăn chăn nuôi. Thức ăn cho cá lăng chủ yếu là cá tôm cá nhỏ và giun đỏ (trùn quế) xay nhuyễn cùng cám gạo. Người nuôi có thể tự chế biến thức ăn cho cá, không nhất thiết phải mua của đại lý. Gia đình anh Tuấn còn chủ động xây dựng khu nuôi trùn quế rộng 300 m2, không chỉ đủ cho cá trong lồng ăn mà còn bán cho các hộ nuôi khác.

Trong lúc một số hộ nuôi cá lăng đặc sản, nhiều hộ khác ở Ea Kao lại chuyển sang nuôi cá rô phi đơn tính thương phẩm. Ông Nguyễn Đức Hạnh – Trưởng thôn 4 – cho biết: Gia đình ông trước đây nuôi cá chép, cá mè, cá trắm, nhưng từ năm 2011 chủ yếu nuôi cá rô phi đơn tính, bởi nhận thấy cùng diện tích mặt nước, cùng công chăm sóc nhưng số lượng cá nuôi lớn hơn nhiều. Mua cá rô phi cỡ 100 – 150 con/kg, chỉ cần nuôi hơn 4 tháng là đạt trọng lượng 3 – 4 con/kg…

Thật đáng tiếc, các hướng “đột phá” chưa mang lại hiệu quả lâu dài cho làng cá Ea Kao. Sau vài vụ cá thuận lợi, các hộ nuôi lại lao đao vì các nguyên nhân khác nhau. Việc nuôi cá trong lòng hồ không suôn sẻ như mong đợi, cá chết nhiều hoặc chậm lớn. Con cá lăng đuôi đỏ đặc sản dù được “vực” về ao nhưng vẫn không chịu “ở lại” với đất Ea Kao, khiến nhiều người nuôi bỏ cuộc. Các hộ nuôi rô phi đơn tính thì được mùa cá nhưng lại lỗ dài, vì trung bình mỗi năm giá thức ăn tăng giá đến 3 đợt, trong khi giá cá xuống thấp.

Cá bắt lên được nướng ngay bên hồ

1 sào mặt nước nuôi cá mỗi vụ chi phí cả trăm triệu đồng, nhưng thu về chỉ khoảng 70 triệu đồng, mà không bán không xong, bởi chậm ngày nào là hàng chục tấn cá trong ao lại ngốn thêm một lượng lớn thức ăn. Từ năm 2013, trên địa bàn xã Ea Kao, số hộ nuôi cá rô phi đơn tính thương phẩm đã giảm hơn 50%, riêng tại thôn 4 giảm gần 80%.

Thất bại với “cá đặc sản”, các hộ nuôi quay lại với “cá bình dân”, các loại trắm chép trôi mè lại được chuộng. Nói như ông Trần Văn Nuôi ở thôn 1: “Nước ở Ea Kao này không hợp với các loại thủy sản cao cấp! Cứ mấy loại cá truyền thống mà nuôi là chắc ăn nhất”.

Vợ chồng anh Trần Văn Chí – chị Lê Thị Hằng cũng đồng tình với nhận định này và cho biết, gia đình đã thử nuôi lươn trong ao, nhưng lũ lươn ốm lên ốm xuống, đang tính bỏ. Trong khi đó, mấy ao ngay cạnh nuôi cá trắm, cá mè thì chỉ cần cắt rau vặt cỏ ném xuống cho cá ăn mà cứ lớn nhanh, béo khỏe.

Khá nhiều ao ở Ea Kao hiện nay được người dân thả cá chứ không phải nuôi cá, họ rút kinh nghiệm từ việc nuôi quá nhiều vừa tốn cám tốn công mà còn bị ép giá. Ông Trần Văn Nuôi hài hước bảo, đó là dân làm theo đúng chỉ đạo “muôn thuở và duy nhất” của chính quyền xã, là không nuôi theo phong trào, loại nào khó tiêu thụ thì hạn chế…

Biểu diễn văn nghệ phục vụ du khách đến Tây Nguyên

Trên hồ Ea Kao, ngoại trừ cái bè nhỏ với vài ô lồng nuôi cá “cầm chừng”, chỉ còn những chiếc thuyền nhỏ ngày ngày buông lưới săn tôm cá. Buổi chiều, lòng hồ tấp nập bà con Ê Đê rủ nhau ra quăng chài kiếm chút thức ăn tươi cho bữa tối, và đám cần thủ từ Buôn Ma Thuột đi xe máy từng đoàn về đây buông câu giữa bức tranh thủy mạc của tự nhiên.

Cá trong hồ khá nhiều, phổ biến nhất là rô phi, song nhiều cần thủ may mắn vẫn giật được những con cá chép, cá lóc khá to. Nhưng phần lớn người ta ra đây buông câu để thư giãn, ngắm mây bông xốp bồng bềnh trên rừng cây xanh ngút ngàn bên kia lòng hồ, nơi ùa về những ngọn gió cao nguyên lồng lộng cho sóng lúa dạt dào những cánh đồng thơm ngát bên rẫy cà phê chín đỏ.

Bắt được cá, người Ê Đê thường đốt củi nướng ăn ngay bên hồ chứ ít mang về làm cơm. Các du khách về đây có thể cùng xuống thuyền với bà con, chèo ra đánh cá trên hồ, trước khi về buôn thưởng thức rượu cần, nghe các già làng kể chuyện hay xem các đội nghệ nhân biểu diễn cồng chiêng.

Những làng “cá bình dân” nằm ngay ven hồ, tạo khung cảnh vừa hài hòa vừa tương phản. Hài hòa, bởi những mặt ao lấp lánh thấp thoáng sau vườn cà phê tôn thêm nét đẹp cho một điểm du lịch sinh thái đang ngày càng nhiều người biết đến. Còn tương phản, vì những mặt nước san sát bên nhau vẫn chưa thể hòa quyện để mở rộng cơ hội phát triển kinh tế cho một mảnh đất cao nguyên giàu tiềm năng…

Nguyễn Việt