Ky Quan San – bùn dưới chân và hoa nở trên đầu

“Đừng thở dài cứ vươn vai mà sống
Bùn dưới chân nhưng nắng ở trên đầu”

Câu thơ nổi tiếng ấy của giới phượt, có trải nghiệm theo nghĩa đen mới thực sự thấm thía.

Đêm giao thừa Canh Tý, khoác áo mưa xỏ ủng đi ngắm pháo hoa. Bác già đứng cạnh hồ Gươm chép miệng: “60 năm rồi mới thấy Hà Nội giao thừa mưa xối xả, có cả mưa đá nữa. Thời tiết năm nay quá lạ!”… Thế rồi mưa triền miên mấy ngày Tết, mưa theo chân từ phố lên rừng.

Cung đường quen thuộc xuyên Mường Vi, Bản Xèo, Mường Hum (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) đã qua bao lần, bỗng gập ghềnh hơn hẳn, lõng bõng bùn nước. Xuống xe ở xã Sàng Ma Sáo, nắng hửng vàng ươm chốc lát như động viên “đội quân hành xác” ngoan cố. Nhưng con dốc dựng đứng, nhoe nhoét trơn tuột thì chẳng có vẻ gì mời mọc những bước chân ì ạch nhọc nhằn.

Mà ngộ thế, cái hội chán nằm chăn ấm nệm êm, vẫn cứ hơn hớn “thấy ghét”, không đứa nào hé răng một tiếng bàn lùi… để mình “chém gió” cho tối mặt(!) Mưa với bùn thì cứ kệ thôi. Lên núi – như thể đó là một phần tất yếu trên hành trình qua “cõi tạm”, là cái đích cụ thể và hấp dẫn hơn vô khối cái đích ngẫm cho cùng sẽ thấy mơ hồ lắm, mà người ta vẫn nỗ lực hướng tới trong cuộc đời.

“Đi chơi thôi mà, bác chữ nghĩa vòng vèo phức tạp quá!” – cậu em “nối khố” vừa leo vừa thở hổn hển vừa làu bàu. Ừ thì nói đơn giản nhé, như cô bạn chung bệnh mê rừng núi từng tâm sự: “Mỗi lần phải triền miên cắm mặt vào máy tính, em lại nhớ những chuyến đi đến phát khóc!”…

Ky Quan San đã quá nổi danh. “Gu-gồ” một phát ra tới 825.000.000 kết quả. Nhiều người lên quá rồi, cũng là một “tiêu chí” để mình ưu tiên khám phá chỗ khác, còn chốn này để “đủng đỉnh coi chơi” vậy thôi(!).

Tuyến leo núi này đã thành điểm du lịch tấp nập. Đám thanh niên người Mông tụ tập khá đông ở trung tâm xã Sàng Ma Sáo, đón khách làm cuốc xe ôm vào chân núi, mời chào bằng tiếng Kinh chưa sõi hẳn, nhưng có vẻ “chuyên nghiệp” phết. Như cậu Vàng A Sùng ở bản Nậm Pẻn, 18 tuổi đã có thâm niên hơn 2 năm chở khách chạy cung này. Bố mất sớm, ruộng nương chẳng đủ ăn cho mấy mẹ con, A Sùng sinh nhai nhờ của thừa kế duy nhất đáng giá: con Win Tàu cũ.

Chạy chầm chậm trên đường núi trơn nhẫy bùn đặc, A Sùng lễ phép: “Mình đi thong thả cho an toàn ạ. Mưa thế này chú leo chậm thôi, càng được ngắm cảnh. Dịp này trên núi hoa đào còn nhiều, đẹp lắm. Có biển mây nữa. Ngày trước gọi là Bạch Mộc Lương Tử mà, ai lên cũng thích”.

Ky Quan San mới được “trả lại tên cho em” từ 2018, sau nhiều năm “vang danh cõi phượt” với cái tên Bạch Mộc Lương Tử, do một sự nhầm lẫn nào đó. Thay tên nhưng không “đổi chủ”, nhiều người dân trong khu vực đã bớt nghèo nhờ nguồn thu nhập khá đều đặn từ du khách.

Cả nhà cậu porter Sùng A Trừ làm du lịch. Gia đình dựng cái lán gỗ ở điểm 2.100 m bên lối lên đỉnh Ky Quan San, cho khách nghỉ. A Trừ và cháu là Sùng A Cá dẫn đoàn, mẹ và vợ ở lán nấu cơm. Lúc đông khách thì gọi thêm mấy trai bản nữa, như Giàng A Cao, cùng leo vác đồ. “Vợ em cũng làm porter được mà. Nhưng cái chính là đêm núi lạnh lắm, nằm phải được ôm vợ mới ấm” – A Trừ cười khì khì bảo thế.

Cậu porter này, thoạt nhìn khó biết là người Mông, bởi trang phục có phần “sành điệu” hơn cả người Kinh. Chỉ lúc leo dốc, “chất Mông” mới “hiện nguyên hình” khi cậu ta nhảy phăm phăm, không thèm bỏ tay khỏi túi quần, trên lối mòn trơn đổ mỡ, trong khi đám khách dưới xuôi lên rón rén dò dẫm từng bước.

Công bằng mà nói, nếu không dính mưa, cung đường hơn 40 km cả đi và về, lên đỉnh Ky Quan San 3.046 m (cao thứ tư ở Việt Nam, sau Fansipan, Pu Ta Leng và Pu Si Lung) cũng chỉ “thường thường bậc trung”, không khó như nhiều ngọn núi khác từng leo. Vài đoạn dốc khá gắt, phải leo bằng “4 chân”; đôi chỗ “sống lưng khủng long” chênh vênh giữa 2 bờ vực “cân não”… Còn lại phần lớn đường dốc chỉ thoai thoải, thậm chí “đi ngang như trên cầu Long Biên”(!)

Nhưng mưa rừng đã biến tất cả thành “mê hồn trận”. Lần đầu tiên sau 25 năm mò mẫm rừng rú, đến Ky Quan San phải 2 tay 2 gậy mà vẫn trượt dài, không ngã chỉ đơn thuần bởi may mắn. Đồng đội thi nhau “vồ ếch”, nhẹ thì lấm quần, nặng thì toạc áo. Cô bạn lần đầu nếm mùi “hành xác”, cứ kêu ồi ồi, mặt xanh lè, phải động viên mãi.

Cả đoàn leo hì hục, cắm mặt xuống chân không dám ngẩng lên. Để rồi bất chợt gặp “khoảng trống khô ráo” nơi đầu núi, cùng òa lên thích thú khi cả vạt rừng hoang bừng sáng sắc hoa đào. Mới ra tết ít ngày, đào vẫn kín cành vừa bông vừa nụ. Thật khó tin bởi từ những thân cành khô khỏng xù xì mốc trắng, đúng chất “đào đá”, vô vàn đóa hoa đang nở bung, hồng rực cả góc trời.

Phần thưởng của một ngày tơi tả lội bùn leo núi là đây. Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông – thơ Thôi Hộ). Thi sĩ ngày xưa vung bút đắt từng chữ, mình có tả nữa chắc chỉ vẽ rắn thêm chân, cơ mà vẫn muốn tả. Những đóa đào rừng khỏe khoắn mà duyên dáng, cứng cáp mà mềm mại, vừa rực rỡ vừa đằm thắm vô cùng. Màu hồng thường đỏng đảnh khó tính, “kén khách” lắm. Nhưng màu hồng hoa đào trên núi chẳng gì sánh kịp, như chắt lọc và gom cả tinh túy trời xuân dồn thành nụ nhỏ, long lanh hứng sương chiều.

Tặc lưỡi tự khen mình “biết dừng biết đủ”, bữa trước tết lên Mộc Châu du xuân thưởng hoa xong không vác cành nào về. Đào rừng đẹp nhất ở trên núi, mang xuống chốn đô thành “nhan sắc” giảm mấy phần, cứ ngơ ngác lạc lõng thế nào. Như con chim trong lồng, no đủ ấm êm, lông mượt mỏ bóng, cũng đẹp chứ, mà chẳng thể sánh với khi còn giang cánh tự do lưng trời…

Thưởng hoa đến tận hưởng rồi, thì… lội bùn tiếp. Chuyến này ngắm chân nhiều gấp mấy ngắm trời, còn rừng thì chủ yếu là… liếc. Lên cao hơn, những cánh rừng tạp đã nhường chỗ cho cổ thụ vươn cao, xen kẽ rừng tre trúc. Từ độ cao khoảng 2.000 mét, những cây đỗ quyên đã trổ lứa hoa đầu tiên chào mùa mới. Vài góc rừng chuyển màu đỏ rực hoặc hồng đậm với hoa nở kín cành. Lác đác có cả hoa đỗ quyên vàng, cây nhỏ hoa xinh, cánh mỏng duyên dáng rung rinh mời gọi gió.

Sùng A Trừ bảo, năm nay mùa đông không lạnh khắc nghiệt như mấy năm trước, trời chuyển ấm sớm, nên vừa ra tết đã có đỗ quyên nở, chứ thường thì phải cuối tháng 3 đầu tháng 4 rừng mới ngập hoa. Không chỉ đỗ quyên, bên đường nhiều loài hoa khác cũng đang khoe sắc, đủ màu, xen những chùm chi chít quả dại đỏ rực hoặc tím biếc. Hỏi Sùng A Cá – cậu porter ít tuổi và ít nói nhất đoàn – xem hoa gì, quả gì thế? A Cá cười bẽn lẽn: “Hoa chi pâu mà” (tiếng Mông, chi pâu nghĩa là không biết, giống như loài hoa đã thành danh bên Tà Chì Nhù, Yên Bái)…

Lán gỗ dừng chân bên núi Muối. Dân phượt ca ngợi khúc này đẹp hơn trên đỉnh, thường nghỉ lại đợi bình minh ngắm biển mây. Làm như lạ lắm! Lên núi là mây trập trùng thôi, mà mình thì tháng nào không lên núi? Nhủ thế, vẫn ngong ngóng cho mau sáng. Sốt ruột nghe mưa đêm ầm ào lẫn sấm trút trên mái lá. Chưa đến rằm tháng Giêng đã mưa rào, mai đường tha hồ nhoe nhoét nữa! Giàng A Cao động viên: “Đỉnh núi gió to lắm, đường nhanh khô thôi.”

Cũng có khô thật, nhưng là khô “một góc”. Đủ thêm độc lực cho đám ham chơi chuẩn bị ngày hành xác thứ hai. Điểm ngắm biển mây ngay mỏm núi gần lán, đi mươi phút là tới. Không đến mức mênh mông hút tầm mắt, nhưng cũng khá hùng vĩ. Mây xốp bông biến những đỉnh núi thành đảo bồng bềnh. Mây ào lên từng đợt như khói cuộn phủ thung xanh. Mây ngơ ngác vươn mình gửi sắc trắng cho nền trời màu xám sau đêm mưa tầm tã…

Còn trong rừng thì ẩm ướt ngự trị, càng lên cao càng bùn lầy. Gió mạnh thêm lạnh căm, càng khiến mây sa thành sương buốt giá, bay như mưa tạt. Rừng thâm u tối mờ những cành cổ thụ đầy rêu phủ, đan vào gió trong bản hòa tấu bất tận của hoang vu. Qua những sườn núi trống, gió gào thét quật không thương tiếc như muốn đẩy ngã người, tưởng đến bay cả đá.

Khắc nghiệt thế, bên đường hoa vẫn nở. Những cụm hoa nhỏ kiên cường màu vàng ngả xám gần như màu đá, điểm xuyết giữa thảm dương xỉ đang rạp mình dưới liên tiếp vô số đợt cuồng phong. Ở độ cao này, những cây đỗ quyên phủ đầy nụ cứng, chưa tưng bừng như lưng núi, đã hứa hẹn một mùa hoa đua thắm.

Gần đến đỉnh cao nhất, dốc khá dài, đôi lúc phải căng mắt mới nhìn rõ trong mây sương mờ ảo. Bùn vẫn lép nhép quấn chân, mỗi bước lại trệu trạo trượt trên lá mục tầng tầng. Leo như theo quán tính, ngỡ chỉ dừng chân là “cỗ máy U50” ít nhiều rệu rã sẽ chẳng còn “nghe lời”, thây kệ mồ hôi tuôn hòa sương muối…

Và rồi như từ cõi hư vô, chóp kim loại ghi dòng chữ “Ky Quan San – 3.046 m” hiện ra mờ mờ giữa sương vây. Đỉnh chóp đã gần bung do “chịu trận” giữa gió dữ lâu ngày. Chẳng nhìn rõ xung quanh, bởi mây sương giăng màn kín mít. Chỉ cảm nhận đỉnh núi qua gió thốc về từ bốn hướng để biết đã đặt chân lên chỗ cao nhất.

Qua rồi cái thời bật lên tiếng reo mãn nguyện mỗi lần “chinh phục thành công”. Giờ chỉ im lặng dựa chóp núi đợi nhịp tim dần chậm lại, chẳng muốn bất cứ âm thanh nào chen vào điệp khúc dữ dội mà thanh bình của lồng lộng gió ngàn.

Cảm giác “lên đỉnh” là lạ, ngồ ngộ. Nói như Albert Einstein: “Tôi thích đi, nhưng tôi ghét phải đến”. Trong đời người ta luôn nhắm tới những mục tiêu nào đó. Để rồi chỉ vài phút giây ngắn ngủi, cái đích vừa khiến mình “vận hết công lực” đạt tới, lại trở thành “đáng sợ”, bởi sau khi chạm mốc rồi thì “nhất thời hồ đồ” chưa biết sẽ đi đâu về đâu(!), sẽ tiếp tục “quăng quật” mình ở hướng nào, với cái gì và cùng ai(?!)

Ô hay, sao lại không biết chứ? Leo lên rồi phải leo xuống thôi! Nghĩ ngắn hạn thế cho dễ. Và thiết thực hơn là phải gom mớ cành ruỗng lá mục ẩm sì kia, ráng nhóm đống lửa sưởi trong lúc chờ đồng đội lên sau. Lạnh tái người rồi, phải nép nhờ bụi rậm chắn gió. Những nụ hoa chưa hé bỗng như chúm chím cười giễu lũ hành xác lẩn thẩn.

Đống củi ướt khói um mãi rồi cũng chịu cháy. Cả đội ho húng hắng xúm quanh ngọn lửa liu riu chực tắt, hơ những đôi tay buốt cóng. Lại giống bao lần, có đứa rên rẩm hài hước: “Sao tự nhiên kéo nhau lên đây ngồi run nhỉ?!” Những tràng cười bật lên không kìm giữ.

Nhớ Noel năm xưa, đi ngang nhà thờ nọ, thấy treo “khẩu hiệu” chắc là trích dẫn trong kinh thánh, rằng: “Loài người phải bị treo lên”(!). Hồi đó thấy “nghịch mắt”, giờ ngẫm lại xem ra có lý phết(!?!). Hình như cái nhu cầu “tự đày đọa bản thân”, người nào cũng mang lấy ít nhiều thì phải. Chẳng cứ gì lội bùn leo núi mới là hành xác. Bao người “sạch sẽ” dưới kia, mấy ai không lao đao khổ sở chuốc lấy phiền não mệt mỏi vì việc này việc nọ cơ chứ. Viện cớ việc chẳng thể đừng, hay là làm việc mình thích… cũng chẳng sai, nhưng bao thứ hồi trẻ thấy nghiêm trọng lắm, giờ thành “nhẹ tựa lông hồng”. Và có lẽ, cứ phải “bị treo lên” mới biết trân trọng lúc “bình thường”, mới cảm thấu hạnh phúc giản dị vô cùng.

Đấy, dãi gió dầm sương quần quật từ bình minh tới hoàng hôn, lết về lán, chỉ ngồi ngâm chân nước nóng cũng thấy “thiên đường trước mặt”. Núi cao, nước sôi ở tầm 90 độ, mà rất nhanh nguội. Mẹ của Sùng A Trừ “chuyên trách” món này, xăng xái tiếp thêm nước cho khách. Bà không nói được tiếng Kinh, nhưng khách ra dấu là hiểu ngay. Nồi nước to sôi sùng sục trên bếp. Nước tắm, nước làm gà đều lấy từ đó. Ngâm chân được thêm nắm lá trà xanh vừa vặt ở mé rừng.

Lại một đêm mưa rừng xối xả. Từng cơn nối nhau đùa giấc ngủ chập chờn, cứ ngớt một lát lại ầm ào rung cây, như thể bầu trời toàn nước. Mưa che mờ cả bình minh, không còn dấu tích biển mây núi Muối. Ngày xưa “vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (mưa không có khóa mà giữ được chân người), còn ở Ky Quan San mưa như giục khách về.

Lại một ngày lội bùn dầm mưa sũng sĩnh, ướt át lấm lem. Máy ảnh với điện thoại giấu kỹ đáy balo, khỏi “tác nghiệp”. Mưa rừng không chỗ trú, đường lầy chẳng nương chân. Nhưng chỉ cần ngước nhìn lên, hoa vẫn nở trên đầu…

Nguyễn Việt