Khi vua nhận lỗi

Trong lịch sử đất Việt, đã có 3 đấng quân vương công khai xin lỗi nhân dân và đại thần.

Lý Cao Tông xin lỗi nhân dân

Lý Cao Tông (1173-1210) là vị vua thứ bảy của triều đại nhà Lý, lên ngôi khi mới 3 tuổi. Trong giai đoạn đầu trị vì, nhờ có thái phó Tô Hiến Thành ra sức phò tá nên đất nước yên ổn. Nhưng sau khi thái phó họ Tô qua đời, vua trẻ người non dạ, lại không có người thẳng thắn can gián, nên ngày càng sa vào ăn chơi. Đất nước suy kiệt, giặc cướp nổi lên.

Lý Cao Tông cuối cùng cũng nhận ra sai lầm của mình. Năm 1207, vua xuống chiếu cáo lỗi với nhân dân: “Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơi cửu trùng, không biết được cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai? Nay trẫm sẽ sửa lỗi, cùng dân đổi mới. Ai có ruộng đất, sản nghiệp bị sung công sẽ được hoàn lại”.

Lê Thánh Tông xin lỗi bề tôi

Lê Thánh Tông (1442-1497) là vua thứ năm của nhà Hậu Lê. Ông được hậu thế đánh giá là vị vua kiệt xuất. Chế độ phong kiến Đại Việt dưới thời trị vì của ông đạt đến đỉnh cao.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, có lần, Quốc Tử Giám Tế tửu Nguyễn Bá Ký dâng sớ trách vua làm văn chỉ chuộng lối học phù hoa, vô dụng mà không chú ý kinh, sử. Lê Thánh Tông không hề giận, trả lời rằng: “Nếu ta chuộng văn hoa, không lấy gốc kinh, sử thì còn sách nào nữa? Ta tự xét mình, xét lời ngươi nói thì trong bốn chữ ‘phù hoa vô dụng’ kia, thực đã gồm cả lòng trung rồi. Thế mà ta lại làm văn mà biện lại, thì ta thực có lỗi. Lúc ấy, người đã kịp thời can ngăn, chẳng vì thế mà giữ ý”. Từ đó, vua Lê Thánh Tông rất quý trọng tài đức Nguyễn Bá Ký.

Năm 1467, vùng Đông Bắc có loạn, tổng binh Lê Hối dẹp mãi không được. Triều đình sai Khuất Đả đem quân tương trợ nhưng cả hai đều bại trận. Khi pháp ti đem hai quan ra xét xử, quan Hình bộ thượng thư viện dẫn đến lệ bát nghị có ý tha bổng cho hai người này. Đô ngự sử Trần Xác cũng tán thành cho rằng: “Xưa nay chỉ có tội đại ác và phản nghịch là không được hưởng lệ bát nghị, chưa từng thấy quan phạm tội thường mà không cho hưởng lệ này”.

Sau khi biết tin, vua dụ rằng: “Quân pháp chỉ có một chứ không có hai. Nói như lời của Xác chỉ là biện bác, mê hoặc người mà thôi, phải nên trị Xác về tội này mới được”.

Nhưng chẳng bao lâu sau, nhận ra lỗi lầm của mình, vua lại ra chỉ dụ: “Ta vu oan cho ngươi là kẻ biện bác để mê hoặc người, đó là ta lỡ lời. Nay, người có mưu kế gì hay cứ nói với ta, ấy cũng như cơn mưa ngọt đến khi trời nắng hạn, như có con thuyền đến lúc ta cần qua sông. Người hãy kính nhớ lấy”.

Vua Quang Trung tự nhận sai

Sau cuộc tấn công đánh bại quân Thanh xâm lược ở Thăng Long vào tết Kỷ Dậu 1789, vua Quang Trung nhận được “đơn kiện” của người dân nơi đây về việc bia Văn Miếu bị đánh đổ ngổn ngang, thông qua một bài thơ: “Bia Tiến sĩ vô can vô tội / Mà vạ lây vì nỗi cháy thành / Bia thì đạp đổ tung hoành / Nhà bia thì đốt tan tành ra tro / Một nền văn hiến lâu dài / Tiếc thay chưa được đón Ngài ngự thăm”.

Sau khi đọc được tờ sớ, vua Quang Trung không hề giận dữ những người đã lên tiếng chỉ trích mình, cũng không bắt tội người viết bài thơ, cho ngay thánh chỉ cùng châu khuyên vào tờ đơn Nôm đó: “Thôi! Thôi! Thôi! Việc đã rồi / Trăm điều hãy cứ trách bồi vào ta! Nay mai dọn lại nước nhà / Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian / Cơ đồ họ Trịnh đã tan/ Chớ đổ Trịnh Khải mà oan muôn đời”.

(sưu tầm)