Khau Hỏm – những “mặt trời bé con” ngày đông giá

Sân chơi của đàn con nhà Vàng A Phánh

10h sáng. Nếp nhà lá xác xơ của Vàng A Phánh tối mò, dù bếp lửa vẫn rực hồng. Lửa là thứ duy nhất giúp cả nhà chống chọi với cái rét thấu xương trên núi cao quạnh vắng. Còn căn nhà nền đất, mái tranh nát thấp tè, phải cúi gập người chui qua khung cửa, liếp tre chi chít khe hở quây làm tường, chẳng ngăn nổi gió lạnh buốt tràn vào tận chỗ nằm.

Gia đình A Phánh là một trong hai hộ ngụ cư, bên cạnh 42 hộ thường trú tại bản Khau Hỏm – khu dân cư hẻo lánh, xa xôi, nghèo khó nhất xã Nậm Sỏ (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu). Cùng là người Mông cả, nhưng muốn “nhập tịch” thì người ngụ cư phải được tất cả các nhà trong bản đồng ý. Được lòng trăm người khó lắm, nên dù chính quyền sẵn sàng tạo điều kiện, “phép vua vẫn thua lệ làng”.

A Phánh kể: “Nhà em ở bên Tuần Giáo (Điện Biên), có 7 anh chị em. Đông người, thiếu đất, mới phải vượt núi tìm chỗ ở. Đến đây 6 năm rồi vẫn chưa được nhập khẩu, các thầy cô giáo thương, vẫn cho con vào lớp học, nhưng vì là người nơi khác nên không được hưởng chế độ hỗ trợ gì. Sang đây cũng không có ruộng, vợ chồng phải đi làm thuê, có lần xuống tận Bắc Ninh làm, nhưng lại phải về thôi, không ai trông 4 đứa con nhỏ mà”.

Bếp lửa là thư duy nhất giúp chống chọi mùa đông giá

Sống ở Khau Hỏm, muốn có việc làm thuê, phải đi xa lắm, chứ bản ở sâu mãi trong núi, hơn chục cây số đường mòn từ đường nhựa vào, toàn thị núi hoang dốc thẳm, tịnh không thấy bóng nhà nào. Mà nếu có chăng nữa, thì cũng toàn hộ nghèo, ai mà thuê người làm. Còn trong bản Khau Hỏm, ngôi nhà gạch duy nhất chính là điểm trường tiểu học và mầm non cắm bản. Các nhà dân đều dựng bằng tre gỗ, cũ kỹ, chắp vá, xám xịt dưới sương mù, như thu mình lại dưới gió bấc.

Cô giáo Đỗ Thị Hồng – Hiệu phó trường Mầm non xã Nậm Sỏ – cho biết, địa bàn xã rộng, phần lớn lài núi cao, bà con sinh sống rải rác, nên trường có tới 16 điểm lẻ cắm bản, trong đó điểm trường Khau Hỏm là xa trung tâm và cách trở nhất. 26 bé tuổi mầm non do một tay cô giáo Tòng Thị Dung phụ trách, cùng với 14 cháu đang theo lớp tiểu học của cô giáo Nguyễn Thị Dinh, ở sát vách.

“Dân bản gọi điểm trường em là lớp cô “Dung Dinh” ạ” – cô Dung cười – “Em lên đây với bà con từ năm 2012. Lúc đó con gái em mới 18 tháng, mà cũng đành bỏ ở nhà cho chồng chăm sóc, mỗi tháng đảo về nhà được vài lần. Giờ cháu lớn rồi còn đỡ, chứ hồi trước nằm đây đêm nào cũng nhớ con thắt ruột… Hôm nay cuối tuần, cháu cũng đòi theo mẹ lên bản chơi với các em bé đấy ạ”.

Giờ ra chơi của “lớp cô Dung Dinh”

Mấy phòng học xây cũng đã lâu, nhìn xa có vẻ tươm tất, bước vào mới thấy cũng xuống cấp rồi. Nhà vệ sinh tạm bợ, quây liếp chơ vơ sườn đồi. Căn bếp của mấy cô trò cũng lụp xụp mái tôn, ngày đông mưa ẩm, khói củi mờ mắt. Khoảnh sân trường gọi là san núi lấy chỗ chơi, đất bùn bê bết, mỗi lần cho các con ra ngoài “vận động” một chút là sau đó cô giáo cọ hiên lau sàn hết hơi.

Đông khách như hôm nay, lại mưa phùn gió bấc, không biết lau chùi “hậu quả” lúc nào mới xong. Nhưng cô giáo Dung cứ tươi rói. Không vui sao được, hiếm hoi lắm mới có dịp bản nghèo, trường lẻ đón khách nhộn nhịp thế này. Các bé được diện đồ mới từ đầu đến chân, đầy tay bánh kẹo, nhảy tung tăng, ríu rít, háo hức đón những trái bóng bay đủ sắc màu, được các tình nguyện viên “nắn” thành nhiều hình thù vui mắt. Quà đơn sơ chỉ có vậy thôi, nhưng mới lần đầu tiên trong đời, những đôi mắt thơ ngây ấy được ngắm, những bàn tay bé xíu ấy được chạm vào…

Có người nói, vùng cao điều kiện vệ sinh kém, nên tặng đồ màu sẫm, chứ quần áo màu sáng vào tay lũ trẻ, chỉ vài buổi là lấm lem hết cả. Mình nghĩ khác, tại sao lại “tước bớt” niềm vui được “khoe áo đẹp” của các bé chứ, và đã có các cô giáo hàng ngày nhắc nhở, uốn nắn, dần dà thói quen sinh hoạt của thế hệ tương lai sẽ khác ông cha.

Áo ấm tặng đàn em thơ

Những chiếc áo khoác màu cam của Cô Son nổi lắm, thêm mũ và ủng đều màu tươi sáng, ấm cả sân trường. Giữa màn sương “quá mù sa mưa” buốt giá, bầy trẻ tựa những “mặt trời bé con”, với những đôi mắt long lanh vui sướng, mang sinh khí mới cho bản nghèo vừa phút trước còn đìu hiu, lầm lũi…

Nhiều người lại bảo, thiện nguyện mà cứ làm theo cách cũ, gom quà lên miền núi là “xưa rồi Diễm”, chẳng giải quyết được gì, vì bao nhiêu cũng không đủ, lại có thể tạo tâm lý “dựa dẫm”… Rồi thì, “phải tạo động lực cho người ta phấn đấu”, “phải cho người ta cái cần câu chứ không phải con cá”… Ai chê trách, đành nghe vậy, hợp lý thế sao dám cãi. Nhưng mà nhìn lũ trẻ áo mỏng chân đất giữa mùa rét tái tê, nỡ nào có áo mà không cho?!

Mừng vì còn nhiều người khác cũng nghĩ vậy, nên các bé mới được quà. Nhóm Cô Son tặng áo khoác mới tinh, thêm đôi ủng xinh xắn cho những bàn chân nhỏ xíu không phải tím tái mỗi lúc lội suối băng đèo đến lớp. Nhóm Từ Tâm gom rất nhiều quần áo ấm, đủ cho cả bản dùng. Nhóm anh Nam tặng chăn đôi, to và ấm lắm, màu hồng tươi, anh em đùa rằng cứ như chăn “trăng mật”, chỉ nhìn đã thấy đỡ lạnh. Nhóm Ngày Mai tặng kinh phí mua quà. Nhóm chị Tâm tặng phụ huynh trong bản mỗi người một đôi giày mới. Nhóm chị Lan tặng các bé những chiếc mũ “đặc biệt”, gắn cả tấm chắn, để ngừa “cái con covid vô duyên”. Nhóm anh Hải tặng khăn mặt poemy “xịn xò” cho tất cả cô trò. Nhóm chị Nga ở tận Tp. Hồ Chí Minh cũng gửi tặng Khau Hỏm rất nhiều vở viết và đồ dùng học tập…

Đường lên Khau Hỏm

“Cái cần câu” đương nhiên rất cần. Mà “con cá” càng cần lắm vậy, để người ta có thể “cầm cự” cho đến lúc “tự bắt được cá”. Mà chuyến này cũng tặng cả “cần câu” đấy chứ. Rất nhiều cây giống, được các nhà hảo tâm ủng hộ, qua “đầu cầu” của cô giáo Đào Thị Thu Thủy, đã được trao tận tay từng hộ dân bản Khau Hỏm, gửi gắm tâm nguyện góp phần tạo thêm sinh kế nơi núi cao khắc nghiệt này.

Ông Vàng A Mang – Trưởng bản Khau Hỏm – hồ hởi xướng tên từng hộ lên nhận cây, tâm sự: “Bản mình ở sâu quá, đồi núi nhiều mà đất cằn lắm, không trồng được gì. Ngày xưa làm nương, được ít thóc, giờ không ai làm nữa. Lúa ruộng được nhiều thóc hơn, nhưng vẫn không đủ ăn, vì ruộng ít, nhà nào cũng nghèo. Chỉ có cây đào cây mận chịu được rét, có quả, nhưng chẳng có tiền mua cây giống. Nay được cho cây giống rồi, bà con mình mừng lắm, bảo nhau trồng thôi”.

Thôi thì cứ gieo xuống những mầm xanh và hy vọng, dù hiểu đường thoát nghèo của Khau Hỏm chắc cũng còn xa lắc, trắc trở như con đường lên bản. Ngồi sau cái xe Win cà tàng của cậu trai bản Giàng A Tráng, suốt hơn chục cây số cứ ngạc nhiên sao mình không… ngã, bởi cứ vài chục mét lại một lần bánh xe loạng choạng hoặc trượt dài. Xẻng cuốc vạt vào sườn núi thành đường thôi, động mưa nhỏ đã trơn hơn đổ mỡ, mưa lớn thì “tay lái lụa” trai bản cũng không dám liều đi.

Dân bản nhận cây giống – món quà thiết thực từ miền xuôi

A Tráng kể, thế này đã đỡ lắm, trơn và dốc mấy thì vẫn là đường. Mấy năm trước thôi, dân Khau Hỏm muốn về xã chỉ biết men dọc suối, đi mất cả nửa ngày. Rủi nhằm bữa mưa bão, người trong bản có ốm nặng mấy cũng đành nằm nhà, uống lá thuốc và cúng “đuổi con ma”, chứ không sao đưa về trạm xá nổi. Khau Hỏm cứ như “một thế giới riêng”, chẳng liên quan đến bên ngoài. Vợ A Tráng 15 tuổi về nhà chồng, giờ đã có con học mẫu giáo.

“Có trường cắm bản, con cháu được đi học, sướng hơn cháu hồi nhỏ nhiều rồi” – A Tráng cười chất phác – “Hôm nay con cũng được nhận quà của các chú các cô đấy, có áo ấm chăn ấm không lạnh nữa đâu.”

Sao mà hết lạnh được?! Mình áo len, áo khoác, áo giữ nhiệt, thêm cả áo mưa, vẫn lạnh cóng đây thôi. Nhưng thấy các bé vui, dân bản vui, cũng ấm lòng. Cầu mong những “mặt trời bé con” ấy sẽ là động lực để lớp phụ huynh Khau Hỏm vươn lên, thay đổi cách nghĩ, cách làm ăn; như các bé đã luôn là động lực tiếp sức cho những bước chân thiện nguyện…

Nguyễn Việt