Khát điện giữa lòng hồ thủy điện

Bản Piêng Luống của người Khơ Mú ở xã Nhôn Mai, giữa lòng hồ thủy điện Bản Vẽ

Lâu nay vẫn nghe huyện Tương Dương (tỉnh Nghệ An) là huyện “to nhất Việt Nam”,  diện tích tự nhiên gấp hơn 3 lần tỉnh Bắc Ninh và gần gấp đôi tỉnh Thái Bình. Nhưng có đi mới thấy thăm thẳm đường dài, từ thị trấn Hòa Bình – huyện lỵ của Tương Dương – đi các xã vùng sâu dễ đến 130 – 140 km. Đường chim bay đương nhiên ngắn hơn nhiều, nhưng rừng núi trập trùng chia cắt, phải vòng sang cả địa phận huyện Kỳ Sơn lân cận, mới có đường về xã.

Theo anh Lô Thanh Nhất – Phó chủ tịch UBND huyện Tương Dương – đến thời điểm này, toàn huyện vẫn còn 24 bản, với gần 1.700 hộ dân chưa có điện lưới, tập trung ở các xã Hữu Khuông, Yên Tĩnh, Nhôn Mai, Yên Hòa, Mai Sơn và Lượng Minh.

Trong số này, xã Nhôn Mai có tỷ lệ hộ nghèo trên 90%. Cách đây chưa lâu, 12 bản (2 bản dân tộc Thái, 3 bản dân tộc Mông và 7 bản dân tộc Khơ Mú) với hơn 2.500 nhân khẩu ở Nhôn Mai vẫn còn trong tình trạng “4 không”: không điện lưới, không đường bộ, không chợ và không sóng điện thoại. Nay thì “cái gì cũng có rồi, nhưng… mỗi thứ một tí”: một số nhà đã có điện “tự cung tự cấp”, đường nhựa đã đến trung tâm xã nhưng đường về bản còn gian nan cách trở lắm, sóng điện thoại thì chập chờn lúc được lúc mất, còn chợ đã họp… mỗi tháng 1 phiên.

Khách đợi đò trên bến sông nhão nhoẹt bùn nước

Nghịch lý vẫn đang tồn tại ở Nhôn Mai, là 5 bản (Huồi Cọ, Huồi Măn, Phá Mựt, Phia Òi, Piêng Luống) nằm trong khu vực lòng hồ thủy điện Bản Vẽ – nhà máy thủy điện lớn nhất Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ, công suất 320 MW, hoạt động từ năm 2009 – vẫn chưa được dùng điện lưới. Trong khi đó, mỗi năm thủy điện tại Nghệ An hòa vào lưới điện quốc gia khoảng 2,2 tỷ Kwh, đóng vào ngân sách tỉnh khoảng 532 tỷ đồng.

Nguyên nhân được ngành điện đưa ra là các bản này nằm khuất sau núi rừng, xa đường điện, xa trung tâm xã, ở vị trí cao, chưa có đường ô tô, ngăn cách bởi lòng hồ thủy điện, giao thông đi lại cực kỳ khó khăn, cho nên muốn kéo điện về thì phải đầu tư rất tốn kém. Vậy là đã cả chục năm nay, nhà máy thủy điện hoạt động ngay ở huyện nhưng dân vẫn chẳng có điện dùng. Đáng nói hơn, người dân những bản này đã chịu thiệt thòi, nhường đất, nhường rừng, bỏ lại nhà cửa đã gắn bó bao đời ở bản cũ, chấp nhận di dời để nhà máy thủy điện có thể vận hành.

Được biết, Thủ tướng đã có quyết định số 1740/QĐ-TTg Phê duyệt chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, giai đoạn 1, tỉnh Nghệ An đã đưa điện vào trung tâm các xã, giai đoạn 2 sẽ đưa vào tất cả các bản. Theo kế hoạch đến năm 2020, Điện lực Nghệ An sẽ đưa điện vào tất cả các bản trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch là vậy, nhưng chưa bố trí được nguồn vốn, nên đến thời điểm này – nghĩa là chỉ còn vài tháng trước khi “hết hạn”, ánh điện vẫn là chuyện xa vời đối với không ít bản nghèo.

Con đò về bản mong manh giữa dòng nước xiết

Đã “nắm tình hình” trước khi về xã, nhưng chúng tôi cũng không khỏi bất ngờ khi được Ban chỉ huy Đồn Biên phòng Nhôn Mai đón tiếp chân tình… trong hội trường tối mờ giữa lúc cơn mưa giông kéo mây đen về kín trời. Ngay cả đồn Biên phòng cũng thiếu điện.

Trung tá Trịnh Văn Quế – Chính trị viên Đồn Biên phòng Nhôn Mai – cho biết: Đồn có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 24 km đường biên giới với nước bạn Lào; thuộc địa bàn gồm 2 xã Mai Sơn và Nhôn Mai, với 4 dân tộc Kinh, Thái, Mông và Khơ Mú. Những năm trước đây, tình hình di cư tự do và hoạt động tội phạm như mua bán, vận chuyển ma túy, tàng trữ vũ khí, vật liệu nổ… vẫn thường xảy ra.

Đồn Biên phòng Nhôn Mai đã thành lập các Tổ tuyên truyền phối hợp với chính quyền xã, các đoàn thể đến từng bản làng, vận động bà con định canh định cư, không vi phạm pháp luật, không vượt biên trái phép, không chặt phá rừng làm rẫy, đưa con em tới trường học cái chữ. Công việc ngỡ bình thường của những người lính mang quân hàm xanh ở bất kỳ vùng biên viễn nào, trở nên khó khăn gấp bội vì… thiếu điện.

Theo Trung tá Trịnh Văn Quế, pin năng lượng mặt trời lắp đặt tại đồn chỉ có thể cung cấp điện cho hoạt động vài giờ mỗi ngày, thậm chí những dịp mưa lớn kéo dài thì chuyện “tối lửa tắt đèn” đã thành như cơm bữa.

Nhọc nhằn đường lên bản

Lực lượng chức năng còn thiếu thốn vậy, đủ biết cuộc sống của bà con nơi đây gian khó nhường nào. Từ đồn biên phòng sang bên kia sông có 2 bản người Khơ Mú: bản Phia Òi và bản Piêng Luống. Đã đặt trước, nhưng mưa lớn nên chủ đò bỏ về, đoàn phải đứng chờ khá lâu dưới mưa trên bến sông nhão nhoẹt bùn nước. Đường xuống bến dốc gần như thẳng đứng, trơn tuột. Chị Lô Thị Dung – Phó chủ tịch UBND xã Nhôn Mai – giải thích: “Đây là vùng lòng hồ thủy điện, mọi khi nước dâng mãi phía trên, sát đồn biên phòng. Năm nay nước cạn, bến sâu hút xuống dưới, chỗ đoàn mình vừa leo xuống vốn ngập nước, làm gì có đường”.

Vượt con sông sóng cuộn cao hơn cả mạn thuyền mong manh, quả thực “hên xui” chẳng biết thế nào. Ấy là giờ còn có thuyền máy xã trang bị cho, chứ cỡ hơn chục năm trước, muốn đến xã Nhôn Mai phải đi thuyền máy gần một ngày ngược dòng Nậm Nơn, rồi cuốc bộ tiếp hàng giờ nữa mới tới trung tâm xã, chưa nói gì đến vào bản. Để giao lưu với bên ngoài, người Khơ Mú ở bản Piêng Luống, bản Phia Òi chỉ có duy nhất một cách là đi xuồng qua lòng hồ Bản Vẽ. Cước phí vài chục ngàn đồng/lượt qua đò là chi phí quá tốn kém đối với dân bản nghèo, nên phải có việc thật sự cần thiết bà con mới ra ngoài, có những người quanh năm không đi khỏi địa bàn xã.

Cuộc sống của bà con ở đây vẫn thiên về tự cung, tự cấp. Vào bản dưới cơn mưa tầm tã, chúng tôi gặp lũ trẻ đầu trần chân đất vừa chạy vừa hò reo bên bìa rừng, mỗi đứa cầm một chiếc sào dài. Có cả mấy người lớn cũng vác sào khua khoắng. Họ đi bắt con “cao kỳ” – một loại bọ cánh cứng hơi giống con xiến tóc nhưng to hơn nhiều, cứ trời mưa mới bay túa ra từ rừng. Sống tách biệt, ít giao lưu với bên ngoài, lúa tự trồng, rau hái quanh nhà, nên món “cao kỳ” ngâm nước muối rồi rang, hay mấy con chuột rừng bẫy được, thành “đặc sản” hấp dẫn không phải ngày nào cũng có.

Lũ trẻ đội mưa vác sào đi bắt con “cao kỳ”

Địa hình cách trở cũng là trở lực lớn đối với việc học hành. Nhiều em học sinh trước đây phải dựng lều tạm gần trường để trọ học, nếu không muốn hàng ngày phải trèo đèo lội suối hàng giờ để kịp đến lớp. Dễ hiểu vì sao hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng khá phổ biến. Nhiều năm, số học sinh toàn xã học tiếp lên THPT có thể tính được trên đầu ngón tay, số vào được đại học, cao đẳng càng hiếm nữa.

Việc học giờ đã đỡ hơn, cả Phia Òi và Piêng Luống đều được đâu tư xây phòng học mới. Piêng Luống có 70 cháu Mầm non và Tiểu học, Phia Òi có 50 cháu được đến trường ngay tại bản. Phòng ốc khá khang trang, đầy đủ đèn và quạt trần, nhưng vẫn im lìm trong bóng tối vì không có điện.

Trưởng bản Piêng Luống – anh Lương Văn Duyên – cho biết, trong bản cũng có vài nhà đã lắp được pin năng lượng mặt trời, một số gia đình khác thì đặt tua-bin nhỏ dọc các khe suối. Nguồn điện này rất phập phù, không đảm bảo an toàn, thường xuyên bị hỏng hóc và bị cuốn trôi vào mùa mưa lũ. Mà không phải nhà nào cũng lắp được, vì chi phí cho 1 chiếc máy phát điện mini cũng phải vài triệu đồng, chạy được vài tháng lại phải mang đi thay vòng bi.

Mùa nào nước suối chảy mạnh, máy phát hoạt động hết công suất, thì còn dùng được quạt điện, ti vi. Đến mùa nước cạn thì quạt và ti vi lại xếp xó, thậm chí lượng điện tạo ra không sáng nổi một bóng đèn.

Cả người lớn cũng rất vui khi bắt được “cao kỳ”

Thế kỷ 21 rồi, chiếc đèn dầu làm bằng lon nước ngọt vẫn leo lét cháy trong góc nhà của người Khơ Mú. Cũng chẳng dám thắp nhiều, một tuần hết 1 lít dầu hỏa đã là quá tốn kém. Các cô giáo dạy bổ túc miễn phí cho các em cũng dưới ánh đèn dầu. Dân bản đã quen tận dụng ánh sáng ban ngày, nên cứ về chiều là mọi sinh hoạt khẩn trương vội vã hơn, nhà nào cũng gắng cơm nước xong trước khi bóng tối phủ kín núi rừng cùng bản nhỏ.

Ông Xèo Văn Khuê – Bí thư chi bộ bản Piêng Luống – cười chất phác: “Người Khơ Mú mình sống với núi rừng quen rồi, giờ so với trước cũng đã đỡ lắm. Chỉ mong có điện nữa để đời sống bà con đỡ tăm tối”.

Cái “đỡ lắm” ấy chủ yếu nhờ phiên chợ do chính quyền xã Nhôn Mai tổ chức vào ngày 15 Âm lịch hàng tháng, bắt đầu từ cuối năm 2018. Trước khi có chợ phiên, các sản phẩm bà con làm ra không có nơi tiêu thụ, đem ra thị trấn bán thì không đủ tiền xuồng, mà để ở bản thì chẳng ai vào tận nơi thu mua được.

Phiên chợ như ngày hội, từ sáng sớm bà con các bản đã rộn gọi nhau xuống chợ, ai cũng đeo gùi nặng trĩu nông sản và các sản phẩm đan lát thủ công truyền thống. Không chỉ các bản ở Nhôn Mai, mà dân các xã lân cận và nhiều bản ở tận huyện Quế Phong, huyện Kỳ Sơn cũng về phiên chợ để trao đổi hàng hóa, thưởng thức các món ăn truyền thống của người Khơ Mú, người Mông, người Thái…

Vợ chồng già người Khơ Mú đan các sản phẩm thủ công, chờ ngày xuống chợ

Chính quyền xã đã nỗ lực vận động bà con trồng rừng và phát triển chăn nuôi gia súc, sản xuất lúa 3 vụ/năm thay vì 1 vụ như trước đây. Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ đã làm thay đổi nhận thức của bà con các bản. Tuy nhiên, việc thiếu điện đồng nghĩa với khó khăn cho đầu tư sản xuất, cũng như hạn chế tiếp cận với các kiến thức cần thiết thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Đáng buồn là toàn tỉnh Nghệ An có tới 32 dự án thủy điện với tổng công suất 1.359,9 MW đã được phê duyệt, trong đó 13 dự án đã vận hành phát điện, 2 dự án đang chạy thử. Thế nhưng, vẫn còn 232 thôn, bản 15.000 hộ dân tại tỉnh này vẫn chưa được dùng điện lưới quốc gia, tập trung tại các huyện miền núi như Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu…

“Xã nghèo, ngân sách eo hẹp, rất cần được các cơ quan, tổ chức, các nhà hảo tâm hỗ trợ, mới mong xóa dần được tình trạng thiếu điện ngay trong vùng long hồ thủy điện, đem ánh sáng về cho những bản nghèo lâu nay chịu thiệt thòi”, đó là tâm sự tha thiết của chị Lô Thị Dung – Phó chủ tịch UBND xã Nhôn Mai.

Nguyễn Việt

Trường mầm non bản Piêng Luống đã được xây mới, nhưng không có điện

Chỉ một số nhà “có điều kiện” mới lắp được những tấm pin năng lượng mặt trời thế này

Nguồn điện không ổn định khiến ăc quy rất nhanh hỏng

2 em bé Khơ Mú trong bản nghèo ngày mưa

Ra vào bản lần nào cũng vất vả