“Giang sơn một gánh giữa đồng…”

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Thuở còn là học trò nghèo, ông rất thích nghe hát ả đào. Trong vùng có một ả đào tên Hiệu Thư nhan sắc xinh đẹp lại nổi tiếng hát hay, nhưng tính nết kiêu kỳ. Không phải vương tôn công tử, chưa ai thưởng thức được giọng hát lời ca của nàng. Muốn gần nàng, Nguyễn Công Trứ đến xin theo Hiệu Thư làm kép. Ông chơi đàn rất hay, Hiệu Thư ưng ý, mỗi khi nàng được mời hát, thường đi cùng ông, có một tiểu đồng quảy gánh mang đàn theo sau.

Một hôm có đám ở huyện bên mời Hiệu Thư sang hát, Nguyễn Công Trứ cố ý để quên dây đàn ở nhà. Đi được vài dặm, đến chỗ đồng vắng, ông giả vờ luống cuống. Hiệu Thư gạn gỏi, ông nói: “Vội vàng bỏ quên dây đàn ở nhà, bây giờ biết làm thế nào? “. Hiệu Thư sai tiểu đồng chạy trở về lấy.

Lúc ấy bốn bề vắng vẻ, chỉ còn hai người, ông liền đến ôm lấy Hiệu Thư. Nàng chỉ kêu “ứ hự”… chứ cũng chẳng cự tuyệt…

Hơn mười năm sau, ông làm Tổng đốc Hải Dương. Nhân bữa có tiệc mừng, ông cho tìm danh ca các nơi về hát. Tình cờ Hiệu Thư lại ở trong đám ca nhi ấy.

Ngồi vào chiếu hát, nàng liếc nhìn thấy ông quan trang nghiêm đang cầm roi chầu ngồi trên sập kia chính là “anh kép đàn” năm xưa. Nàng bèn hát hai câu rằng:
“Giang sơn một gánh giữa đồng,
Thuyền quyên ứ hự… anh hùng nhớ chăng?”

Nguyễn Công Trứ nghe hát, giật mình nhớ chuyện cũ, nhận ra người xưa. Biết nàng vẫn còn chờ đợi, không chịu lấy ai, ông liền cưới làm thiếp, yêu thương thắm thiết.

Sau đó ít lâu, ông phụng chỉ đem quân dẹp giặc ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, xông pha nơi lam sơn chướng khí. Đêm nhớ người yêu, ông làm bài thơ “Tương tư” gửi về tặng nàng:
“Tương tư khôn biết cái làm sao?
Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào!
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao
Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước
Gió thổi bên tai, tưởng miệng chào
Một nước một non, người một ngả
Tương tư khôn biết cái làm sao?”

Hiệu Thư nhận bài thơ tha thiết, không đành lòng ở nhà được. Một hôm Nguyễn Công Trứ cùng các tướng đang chỉ huy tập trận, chợt thấy Hiệu Thư tìm đến. Thương nàng đi đường xa xôi vất vả, ông ngâm hai câu thơ:
“Đành nhẽ bút nghiên mà kiếm mã,
Thương ôi kim chỉ cũng phong trần”.

(sưu tầm)