Giăng câu đêm đông sương giăng

Cứ ngỡ theo lẽ thường rằng dân sông nước “ăn sóng nói gió” lắm, chưa thấy người đã nghe tiếng mới phải. Nhưng anh Xa Ngọc Thân lại tuyền một giọng rù rì thủ thỉ, nhỏ nhẹ đến ngạc nhiên. Ngoa một chút, lúc anh nói chuyện bình thường, giọng chẳng to hơn thiếu nữ lần đầu hẹn bạn trai, còn đôi lúc có “tăng âm” thì cũng chỉ cỡ “kể chuyện đêm khuya” là hết.

Ngạc nhiên hơn, cả thú vị nữa, là cái “ông chài” chất miền núi đặc sệt ấy, thỉnh thoảng lại thốt ra vài câu “thâm thúy” bất ngờ. Soi đèn pin cho khách dò dẫm trong đêm tối như bưng mắt trên lối mòn dốc dài trơn tuột dẫn xuống bến thuyền, anh cười nhẹ: “Bác bước cẩn thận nhé. Cả tuổi trẻ của em chìm lấp dưới lòng hồ này, hôm nào cũng từ sáng tới đêm mấy lần qua đây, chân dẫm đến mòn vẹt cả đá, mà vẫn trượt ngã như thường đấy”.

Chuẩn bị rời bến

Mất một lát, tôi mới hiểu cái chuyện “chìm lấp” anh tâm sự với khách mà tư lự như nói với chính mình. Đó là bản Mường xưa của anh Thân, giờ nằm sâu dưới ngót trăm thước nước. Thung lũng ngày ấy đất tốt màu mỡ cho ruộng nương trĩu hạt bên những nếp nhà sàn thơm khói bếp, giờ chỉ còn là dĩ vãng xa xăm chẳng thể nhìn rõ qua thăm thẳm mênh mang nước bạc. Cũng khá lâu rồi, từ ngày sông Đà bị chặn dòng làm thủy điện, bản Mường phải di dời lên núi cao, thời gian đủ cho một tiểu mục đồng chăn trâu trở thành người đàn ông trung niên dáng phong trần sương nắng, có 3 đứa con tuổi choai choai.

Anh Thân rủ rỉ: “Em lấy vợ muộn nên con vẫn học phổ thông. Vùng cao này, bố mẹ cỡ tuổi em thì con cái đã học xong, đi bộ đội hoặc về xuôi kiếm việc phụ giúp gia đình rồi. Cũng bởi nhà xưa chỉ biết làm nương, khi không còn ruộng nữa chẳng biết nghề ngỗng gì khác, bươn bả làm thuê khắp nơi cũng chẳng ăn thua, rồi lại tay trắng về quê, sao dám lấy vợ!”

Con sông Đà ngày xưa chỉ là nơi lũ trẻ Mường tập bơi, cho trâu tắm; có đi câu, đặt vó, cũng chỉ vui nghịch là chính. Chẳng ngờ, trò chơi con trẻ ngày ấy, giờ thành nghiệp mưu sinh của anh Thân và rất nhiều người dân bản cũ. Sông Đà chặn dòng, phình rộng thành lòng hồ sâu lắm, cá tôm dồn về nhiều, nên nhà nào cũng sẵn dây câu, tay lưới.

Phải đi thuyền máy khoảng 20 km mới đến điểm thả câu

Vợ chồng anh Thân thuộc “số đông” ở vùng này, những nông dân không còn đất canh tác, chỉ chuyên nghiệp thả lưới giăng câu. Chiều nào anh chị cũng xuống thuyền chở rọ tôm ra đặt ven bờ và ven các đảo trong lòng hồ. Đặt rọ xong thì thả lưới, đến nhá nhem mới quay về bến. Cơm nước xong, khoảng 9 – 10 giờ đêm, anh Thân lại xuống thuyền ra hồ giăng câu, lắm khi đến gần sáng. Tỏ mặt người, vợ chồng quay ra nhấc rọ, gom tôm cùng với cá giao lên tàu của thương lái sáng nào cũng lượn một vòng ngang mấy bản ven hồ. Thức gần trắng đêm dầm nước bạc, mặt trời lên cao là giờ đám dân chài như anh Thân “kéo gỗ”, ngủ vùi lấy sức để chiều lại xuống thuyền…

Đêm đông sương giá bay ràn rạt lẫn mưa phùn. Bến núi bùn đất nhão dính nặng chân, hiu quạnh mấy con thuyền cũ cắm sào giữa bóng tối. Chúng tôi tháo những đôi giày lấm bê bết, để lại trên bến. Anh Thân bẻ cành lá ngõa phủ lên giày, bảo tôi: “Bác lên thuyền trước, để em đẩy ra, đừng lội nước giá dễ ốm. Lấy lá che giày cho khô, chứ dân bản lành lắm, chẳng ai lấy đâu. Với lại mưa rét thế này, chỉ có anh em mình mò mẫm sông nước thôi”.

Thuyền chạy vòng vèo qua những lồng nuôi cá và rất nhiều vó bè thắp đèn dụ cá như sao sa trong màn sương đục. Tiếng máy đuôi tôm nổ phành phành, khiến tôi phải căng tai mới nghe được cái giọng thủ thỉ của người “thuyền trưởng” chu đáo: “Bác kéo rèm xuống kẻo mưa ướt hết. Anh em mình còn phải đi lâu đấy”.

Mỗi dây câu buộc 300 lưỡi, gắn mồi giả làm bằng lông gà

Thứ anh Thân gọi là “rèm” gồm 2 vỏ bao tải to, treo sát mui thuyền. Cái mui thấp chỉ che được một khoảng đủ cho 2 người nằm theo tư thế đầu gối gần chạm cằm, nếu không muốn duỗi thẳng để “nhờ mưa rửa chân”. Rèm kéo rồi nhưng chỉ lát sau gió mạnh đã tạt mưa ướt áo.

Tôi thắc mắc: “Sao phải đi xa thế anh? Cá sông thường quanh quẩn gần khu lồng nuôi cá, để rình thức ăn thừa. Mấy lần trước tôi cũng câu được mà?”. Anh Thân cúi xuống khoang thuyền, lôi ra cái chậu đựng “đồ nghề”, thong thả đáp: “Đó là bác câu bằng cần, còn đêm nay mình giăng câu. Một dây câu của em 300 lưỡi, cứ cách hơn 1 mét buộc 1 lưỡi, thả hết cũng đến 400 thước, thả rồi còn phải chèo thuyền dìu cho dây thẳng, mới không rối. Quanh đây toàn dây neo lồng, neo bè, dây điện nữa, vướng ngay. Từ bến ra chỗ nhiều cá mà không vướng lồng bè, phải chừng 20 cây số”.

Xa khu lồng bè, không còn ánh điện, đêm thêm đặc quánh. Mưa ngớt nhưng sương càng mịt mùng. 2 cái đèn pin của chúng tôi chỉ soi được vài mét phía trước. Nghe anh Thân bảo tắt đèn, tôi hơi hãi. Có đèn còn phải căng mắt, huống hồ không đèn, khéo đâm vào đảo cũng chẳng biết, mà những mỏm núi đá trong lòng hồ thì nhiều vô kể… Nhưng vài giây sau, mới biết tắt đèn là “sáng suốt”, khi đôi mắt quen dần bóng tối, có thể nhìn được những đảo đá đen sì ảo mờ sau màn sương cuồn cuộn.

Sương rơi như mưa trên những vó bè giữa lòng hồ

“Ông chài” Xa Ngọc Thân “triết lý” với nụ cười tủm tỉm: “Sương dày mà bật đèn, lóa mắt khó nhìn lắm bác ạ. Nhiều khi muốn nhìn rõ mọi thứ thì mình phải ở trong bóng tối nhỉ. Chẳng ai thích thế, nhưng mà cuộc sống nó thế. Cũng như không ai muốn nghèo, nhưng khi nghèo thì mình biết ai thật lòng đến với mình”.

Tôi không khỏi bật cười, đùa rằng “lý luận sắc bén” như anh sao lại đi chài lưới, phải đứng ở giảng đường nào đó mới đúng(!). Anh Thân tắt máy, ra mũi thuyền nhấc đôi mái chèo, bẽn lẽn: “Bác trêu thế em ngượng. Em nghĩ sao nói vậy. Nhà em thỉnh thoảng cũng có khách Hà Nội lên chơi, thường ngồi nhà đợi em câu về, làm gỏi cá uống rượu, cũng vui lắm. Nhưng chỉ có bác là xuống thuyền dầm sương hứng gió với em. Mong hôm nay dính vài con to, bõ công bác vất vả. Chỉ sợ tối quá, sương dày thế này, cá chẳng thấy mồi mà đớp. Đêm nào có trăng sáng mới hay được nhiều cá”.

Tôi “nhắc” anh Thân rằng toàn bộ cái “vất vả” của tôi là nằm cuộn dưới mui thuyền, ôm bình trà nóng, nhâm nhi bắp ngô mà “phu nhân ông chài” cẩn thận luộc cho lúc tối. Trong khi đó, anh Thân phải ngồi đầu trần giữa sương gió, vừa guồng chân đạp chèo vừa thả câu… Nụ cười chất phác của “ông chài” ánh lên trong bóng đêm: “Em làm bao nhiêu năm, quen quá nên thấy thường. Theo nghề này cực một chút, nhưng thoải mái, chẳng lụy ai, đi về mặc ý do mình cả. Sướng hay khổ, nhiều khi do mình nghĩ thôi, bác nhỉ!”

Giăng câu trong sương giăng

Mớ dây câu được xếp khoanh trong chậu, 300 lưỡi câu móc trên thành chậu thành vòng tròn, thả hết cũng ngót nửa giờ. Cứ cách 50 lưỡi lại buộc 1 cái phao lớn, cho dây không chìm quá sâu khi xuống nước. Mỗi lưỡi câu “trốn” giữa vài sợi lông cổ gà trống màu hung đỏ. Giữa làn nước đêm lấp loáng, cái mồi giả này giống hệt con mối cánh – chẳng trách lũ cá bị lừa suốt.

Thả câu xong, anh Thân guồng chèo đều chân. Con thuyền thong thả trôi trong sương bay dày đặc. Chỉ có “ông chài” quen định hướng, chứ như tôi thì bó tay đợi sáng, chẳng biết đâu là bờ. Rủi gặp giông gió, coi như tuyệt đường về quê(!)

Anh Thân trấn an tôi: “Mùa này chưa bão, mà nếu sóng to gió mạnh quá, mình tấp vào đảo đợi ngớt. Bão gió ở lòng hồ thì kinh khủng lắm, năm rồi khối lồng nuôi cá bị quật tan tành đấy. Em cũng trải nhiều phen rồi, có lần phải cắt dây câu để vào bờ cho nhanh, không cố được. Đời thường cũng tựa giăng câu vậy bác nhỉ, khó nhất là biết điểm dừng. Nhà em xưa có nghề chế súng kíp tốt nhất vùng này, nhiều người nhờ làm, trả nhiều tiền, nhưng em cứ thấy việc ấy nó trái trái thế nào, nên thôi. Người ta nói em dại, nhưng cứ thả lưới giăng câu thế này khỏe hơn, chẳng phải nghĩ ngợi gì”…

Một chú cá ngão nhỏ dính câu

Giờ lâu sau, anh Thân gác mái chèo, bắt đầu thu dây. Tôi tò mò hỏi, đêm mịt mùng, dây câu dài thượt, sao biết cá cắn mà kéo? Anh Thân lại cười nhẹ: “Chèo thấy nặng thì biết chứ bác. Có hôm em kéo rồng rắn đằng sau cỡ 15 – 20 cân cá, đạp chèo trĩu chân. Đêm nay thì hú họa thôi, khó được lắm, nhưng cứ kéo lên, về sớm chút kẻo bác lạnh”.

Đúng như anh Thân “cảnh báo”, có đến dăm bảy chục lưỡi câu được kéo lên mà chưa thấy cá. Anh Thân vẫn giữ nụ cười nhẫn nại: “Có cá đấy bác ạ, phía cuối dây cơ, chỉ chưa biết to hay nhỏ”…

Và con cá đầu tiên đã lên thuyền – một con ngão nhỏ bằng 3 ngón tay, thân dẹt lưng gù, cái mồm to ngoại cỡ. Trên này, cá ngão gọi là cá thiểu. Chúng phàm ăn và sinh sản rất nhanh, nên được coi là “thu nhập chính” của dân chài, dù giá bán chỉ vài chục ngàn đồng 1 kg. Anh Thân kể: “Thỉnh thoảng em cũng dính con ngão hơn chục cân, phải dòng chán tay mới lôi lên thuyền được. Cá măng thì còn khỏe hơn nữa. Giăng câu tuy có thể được nhiều cá, nhưng phải luôn cẩn thận, vì nếu cá to giãy khỏe, các lưỡi câu móc vào tay mình, thì có khi cá lôi người xuống sông”.

Cá ngão, còn gọi là cá thiểu, có rất nhiều ở vùng lòng hồ sông Đà

Vài con ngão nữa dính câu, vẫn toàn cá nhỏ. Chợt anh Thân quơ cây vợt, reo nho nhỏ: “Sắp có con kha khá đấy bác!”… Tôi hồi hộp rọi đèn theo con cá lớn đang kéo dây phi vun vút sát mặt nước, chỉ lo sổng. Nhưng “ông chài” đã vung tay điêu luyện, chụp gọn cá vào vợt, ước lượng: “Con này cỡ 2 cân rưỡi”.

Chuyến giăng câu đêm sương đen đặc có vẻ “thất sách”, bỗng trở nên hào hứng. Lũ cá nhảy loạn xạ trong lòng thuyền mỗi lần có thêm “bạn” dính câu. Gần cuối dây, được thêm mấy chú ngão choai choai. Con cá cuối cùng, khoảng hơn 3 cân, giãy đùng đùng làm nước tung tóe. Phải mấy lần vợt mới tóm được nó, anh Thân nhỏ nhẹ: “May mắn cả thôi. Cá vào vợt mới là cá của mình, bác nhỉ! Hơi tiếc là đêm nay dính toàn cá ngão. Giá kể được con măng, con trắm, về nướng mời bác thì khoái hơn”.

Thấy có cơ “làm ăn được”, tôi nài anh Thân thả câu lần nữa, nhưng anh chỉ cười hiền lành: “Đủ cá mời bác rồi, về thôi kẻo anh em đợi lâu”. Thì ra “ông chài” chu đáo đã “lên kế hoạch”, dặn mấy bạn chài là anh Cừ, anh Tú chuẩn bị sẵn củi lửa, gia vị ở cái lán góc vườn, để đêm vui rôm rả không phá giấc ngủ của vợ con.

Cá sông rất khỏe, nhiều khi phải dòng khá lâu mới bắt được

Hai anh em lễ mễ vác “chiến lợi phẩm” leo dốc về bản, đã thấy bếp lửa vừa nhen. Anh Cừ – hàng xóm và cũng là họ hàng của anh Thân – xách chiếc nồi gang cỡ đại, giọng oang oang: “Cá tươi phải nấu ngay mới ngọt. Đêm nay đãi khách quý món cá ngão đúc muối nhé, đảm bảo với bác là Hà Nội còn lâu mới có!”

Thấy mấy “ông chài” hiếu khách định “xử” hết cả mớ cá dễ cũng đến 7 – 8 kg, tôi vội ngăn lại, bảo chỉ ăn mớ cá nhỏ là vừa, dành mấy con to mai mang ra chợ bán. Can mãi họ mới chịu.

Vừa rửa cá, anh Cừ vừa giảng giải: món này phải nấu bằng nồi gang; cá rửa sạch để nguyên con không mổ, lấy muối rải đáy nồi, xếp cá lên trên rồi tiếp tục đổ muối phủ kín. Nồi gang đun lửa to, muối nóng chảy ra “ôm” lấy cá, làm cá chín dần mà không bị mất nước, tha hồ ngọt thịt.

Món nhắm “dã chiến” kiểu này phải đun khá lâu. Đến khi muối và cá đóng thành bánh, anh Cừ mới xách nồi ra, úp ngược lên mấy tấm lá chuối trải sẵn, cầm chày đập choang choang vào đáy nồi cho “bánh cá muối” bong ra, cười khà khà: “Nấu kiểu này chỉ 3 lần là vứt nồi đi thôi bác ạ. Có khách quý em mới làm. Bác phải dùng hết đấy nhé!”.

“Chiến lợi phẩm” to nhất của đêm giăng câu, ước chừng hơn 3 kg

Tiện tay, anh Cừ giáng một chày vào “cái bánh”. Muối vỡ ra, kéo theo cả lớp vảy, lộ mảng thịt cá trắng phau, bốc hơi nghi ngút thật hấp dẫn. Mớ ruột cá cũng đã “keo” thành miếng, bóc một cái là sạch bong.

Cá ngấm hơi muối, ngọt đầm đà, chấm thêm mù tạt, quả là “hết sảy”. Dầm sương đêm gió rét, vừa đói vừa lạnh, cả chủ và khách cùng “nhiệt tình”, quên cả đêm sắp về sáng càng giá buốt, sương từ lòng hồ cuồn cuộn phủ kín mái tranh…

Anh Thân chỉ lẳng lặng gỡ cá mời khách, mãi mới cất giọng nhỏ nhẹ: “Giờ em yên tâm rồi, nãy chỉ sợ bác không dùng được đồ ăn kiểu “Lương Sơn Bạc” này thì bọn em áy náy lắm. Còn mấy con cá to, em treo ra xe bác rồi, mai bác cầm về xuôi làm quà nhé”.

 Nguyễn Việt

Món cá nấu kiểu “Lương Sơn Bạc” lại có hương vị đậm đà, độc đáo