Danh tướng kháng chỉ, kiên quyết chống ngoại xâm

Hoàng Kế Viêm tên thật là Hoàng Tá Viêm, tự Nhật Trường, hiệu Tùng An, người làng Văn La, tổng Văn Đại, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông là con của Hoàng Kim Xán, Bố chính tỉnh Khánh Hòa. Sau khi Hoàng Kế Viêm thi đỗ cử nhân vào năm 1843 thời vua Minh Mạng, ông được bổ Tư vụ, hàm Quang Lộc tự khanh. Vì thông minh và có đức hạnh nên ông được Hoàng tộc chọn làm Phò mã, kết duyên cùng con gái thứ 5 vua vua Minh Mạng là công chúa Hương La.

Năm 1846, Hoàng Kế Viêm làm Lang trung bộ Lại. Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh dân rất nghèo, lại có mâu thuẫn Lương – Giáo, Triều đình cử Hoàng Kế Viêm làm Tổng đốc vùng An – Tĩnh. Tại đây ông mở mang nông nghiệp, phát triển giao thông, giải quyết được các mối bất hòa trong dân chúng.

Tại Trung Quốc, cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc thất bại, tàn quân chạy tràn sang miền Bắc Việt Nam. Đầu tiên, họ xin hàng, sau đem quân đi cướp phá các tỉnh. Quan quân đánh mãi không được mà còn mất nhiều binh tướng. Triều đình Huế bèn phái Hoàng kế Viêm ra làm Lạng-Bình-Ninh-Thái Thống đốc quân vụ đại thần (1870), để hiệp với lực lượng của Tán tương Tôn Thất Thuyết cùng lo việc đánh dẹp.

Hoàng Kế Viêm vừa đánh vừa dụ hàng, thu phục được Lưu Vĩnh Phúc (chủ trướng quân Cờ đen), đánh tan quân Cờ trắng và Cờ vàng. Nhờ công lao này, Hoàng Kế Viêm được phong Đại học sĩ lãnh Tổng thống Tam Tuyên, sung Tiết chế quân vụ miền Bắc.

Năm 1873 chỉ huy quân Pháp đánh Bắc hà là Francis Garnier cho quân đánh chiếm Hà Nội, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con là Nguyễn Tri Lâm lên mặt thành đốc quân chống giữ. Nhưng trước vũ khí hiện đại và hỏa lực rất mạnh của quân Pháp, Nguyễn Tri Lâm tử trận, Nguyễn Trị Phương bị thương nặng rồi bị bắt, tuyệt thực rồi mất chứ quyết không chịu hàng.

Hai tuần sau khi chiếm được Hà Nội, quân Pháp tấn công chiếm luôn một loạt các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình và Nam Định. Trong tình thế đó Hoàng Kế Viêm được Triều đình cử làm Thống đốc Quân vụ đại thần, là Tổng Chỉ huy quân đội triều đình tại Bắc hà.

Lúc này Triều đình muốn nghị hòa, phái Trần Đình Túc ra bắc thương lượng với người Pháp, nhưng Hoàng Kế Viêm kháng lệnh.  Ông chỉ huy quân Triều đình phối hợp cùng quân Cờ Đen và người dân quyết chiến với quân Pháp. Ông cho một đội quân mai phục ở Cầu Giấy, trong khi một cánh quân khác tấn công thành Hà Nội.

Khi Francis Garnier cùng Trần Đình Túc đang hội đàm buổi thứ hai trong thành Hà Nội, thì quân Triều đình và quân Cờ Đen tấn công vào thành. Francis Garnier bỏ cuộc hội đàm ra ngoài thành nghênh chiến. Quân Pháp lợi dụng có trọng pháo hiện đại liền liên tục bắn trả, quân Đại Nam liền rút lui.

Garnier đem trọng pháo cùng quân truy đuổi theo, đến Cầu Giấy thì bị quân Đại Nam và quân Cờ Đen mai phục đánh bại, Garnier cùng hơn 100 binh sĩ bị tử trận.

Garnier trúng mai phục, bị giết ở Cầu Giấy

Thừa thắng, Hoàng Kế Viêm cho quân tiến đánh Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình, quân Pháp bị bao vây chặt trong các thành lũy. Tình thế Bắc hà hoàn toàn đảo ngược và quân nhà Nguyễn làm chủ cuộc chiến. Cái chết của chỉ huy khiến quân Pháp hoảng loạn, hơn 1 tháng sau phải rút hết khỏi Bắc hà, quân nhà Nguyễn lấy lại được Hà Nội và các tỉnh khác.

Tuy nhiên Triều đình vẫn đặt hy vọng vào đàm phán thương lượng. Hiệp ước Thương mại ký ngày 31/8/1874, theo đó Pháp trả lại cho nhà Nguyễn các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nội; còn 6 tỉnh Nam kỳ tách khỏi Đại Nam để đặt dưới sự bảo hộ của Pháp.

Triều đình buộc Hoàng Kế Viêm cùng quân Cờ Đen phải rút về miền ngược. Đặt lợi ích người dân lên trên hết, Hoàng Kế Viêm kháng lệnh, tiếp tục ở lại giữ Bắc hà.

Năm 1883, đến lượt Đại tá hải quân Pháp Henri Rivière đánh và chiếm được thành Hà Nội, song cũng lại bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại Ô Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883.

Năm 1884, triều đình ký Hòa ước Giáp Thân với Pháp,ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm lúc đó đang đóng ở Sơn Tây rút quân về Huế, nhưng ông không tuân lệnh, vẫn ở lại phối hợp với quân Thanh đánh Pháp. Mãi đến khi Sơn Tây và Hưng Hóa thất thủ, ông mới chịu về Huế, nhưng cương quyết không hợp tác với phe chủ hòa.

Ông xin về trí sĩ nhưng không được, mãi đến đời vua Thành Thái, năm 1889, ông mới được nghỉ hưu, về quê sống đến khi mất (1909), thọ 89 tuổi.

Mộ Hoàng Kế Viêm tại quê nhà

(sưu tầm)