Cô gái trên xe lăn dưới chân đèo Yêu

Mặt ao phẳng lặng như gương soi bóng núi rừng xanh ngắt. Sau mỗi ngày nỗ lực thắp sáng nụ cười trên gương mặt lũ trẻ trong bản nhỏ, cô gái ấy lại ngồi một mình bên bờ ao, để mặc gió chiều xuôi theo con đèo vắng về mơn man suối tóc. Như thể cô đang tìm dưới bóng nước nụ cười của chính mình…

Điện thoại của tôi đổ chuông lúc gần nửa đêm. Giọng con gái rụt rè: “Em xin lỗi đã gọi anh muộn ạ. Nghe nói đoàn các anh sắp lên Pác Nặm, nếu xe còn chỗ thì cho em gửi 200 bộ đồ chơi tặng các cháu vùng cao quê em được không?”.

Nhóm chúng tôi tổ chức Tết Thiếu nhi cho các cháu ở Trường Mầm non xã Giáo Hiệu (huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn), đã quyên góp được khá nhiều bánh kẹo, đường sữa, quần áo… nhưng còn thiếu đồ chơi. Tỉnh cả ngủ vì “được cứu vào giờ chót”, tôi rối rít cảm ơn và mời “nữ Mạnh Thường Quân” đi cùng đoàn. Cô gái ngập ngừng: “Dạ… em thích lắm ạ. Nhưng sợ phiền các anh, vì… em bị liệt chân, phải ngồi xe lăn. Em tên là Thiều, Lý Thị Thiều, người Tày anh ạ”.

Rồi tôi cũng “nịnh” được gia đình Thiều cho phép “vác” cả cô và chiếc xe lăn lên ôtô. Lúc tôi đến đón, Thiều đang ngồi bên bờ ao sau nhà ở bản Cọn Luông, thả từng nắm rau xuống cho đàn cá trắm tranh nhau khiến mặt nước cuộn lên những vòng sóng vui mắt.

Gia đình Thiều là một trong số rất ít hộ dân vùng này có “truyền thống” nuôi cá lâu đời. Nhưng từ đời ông đến đời bố cô, cái ao vẫn nhỏ lắm, lúc nhiều nhất cũng chỉ thả nuôi cỡ trăm con cá, phần nhiều là cá nhỏ bắt dưới sông ngoài suối, đem về ao nuôi lớn làm thực phẩm dự trữ cho gia đình. Ao cá còn là thú vui hiếm hoi của người vùng cao, nhà Thiều từng nuôi được những con cá trắm đến 12 kg, chỉ để… ngắm, như một cách thư giãn sau mỗi ngày mưu sinh nhọc nhằn. Đến lúc Thiều “tiếp quản”, cô đã thuê người đào ao rộng hơn, sâu hơn, cải tạo cẩn thận để thả nuôi thêm nhiều loại cá, từ trắm, chép, trôi, rô phi cho đến cá vược.

Cách đó vài trăm mét là trang trại của cô, cũng là trang trại đầu tiên của Pác Nặm, rộng thênh thang cả quả đồi, với những luống rau xanh mướt trải dài, đàn gà hơn 600 con thi nhau cục tác vang một góc núi và những con lợn “tên lửa” đủng đỉnh dũi mõm dài tìm củ dưới đất… Thật ngưỡng mộ khi tất cả được xây nên từ đôi bàn tay nhỏ nhắn của Thiều đang khó nhọc vần từng vòng bánh chiếc xe lăn trên con đường núi mấp mô.

Rau sạch trong trang trại ở bản Cọn Luông

Càng ngạc nhiên hơn, vì cô gái tàn tật sinh năm 1988 này ngồi xe lăn ở huyện miền núi Pác Nặm, nhưng vẫn “chỉ đạo” gom quà từ thiện tận Hà Nội, cách nhà ngót 300 km. Thiều cười nhỏ nhẹ: “Em từng ở Hà Nội chữa bệnh mấy năm, đôi chân thì vẫn liệt, nhưng may mắn quen biết nhiều người tốt. Hiện em làm đầu mối quyên góp hàng từ thiện cho Pác Nặm”…

Thiều là con gái duy nhất trong một gia đình nhà nông có 3 anh chị em ở bản nghèo heo hút giữa muôn trùng rừng núi. Lũ trẻ bản Cọn Luông phần nhiều chưa được biết đến cái chữ, những em may mắn được đến trường thì đa số cũng chỉ theo được đến hết tiểu học, vài em hiếm hoi lên tới cấp 2 thì phải vượt núi băng rừng đi trọ học xa nhà.

Ký ức của Thiều vẫn vẹn nguyên về những tháng năm trọ học trong túp lều bé nhỏ xiêu vẹo, mái tranh lụp xụp,với bữa ăn quanh năm chủ yếu chỉ có cơm và ít rau rừng. Nhiều lần đang ăn thì thầy cô giáo hoặc các bạn đến thăm, lại vội vàng giấu bát rau duy nhất xuống gầm giường vì tủi thân và xấu hổ.

Nhưng từ ngày ấy, cô bé Thiều đã biết mình quá may mắn so với lũ bạn cùng lứa trong thôn sớm phải xa lớp rời trường để phụ giúp gia đình lên nương, vào rừng mưu sinh. Để có tiền cho Thiều học lên cao, dù với những bữa cơm đạm bạc, ông bà và người mẹ gầy gò ốm yếu của cô đã phải vay mượn khá nhiều và nỗ lực quên mình, ngoài buổi làm ruộng còn phải lội suối bắt cá, luồn rừng tìm nấm mối, chắt chiu từng đồng bạc lẻ. Cha của cô, nhiều năm mang căn bệnh đau thần kinh tọa, lắm bận đau nằm liệt giường, nhưng chỉ cần bệnh hơi đỡ là lại gượng dậy chăm mấy luống ngô để con gái có thêm vài đồng ăn học.

Bản Cọn Luông của người Tày nằm dưới chân con dốc vừa cao vừa ngoằn ngoèo qua mấy hàng núi dựng. Người già trong bản kể, hồi trước có đôi vợ chồng giận nhau, sau buổi làm nương không về nhà mà cứ theo đường núi đi mãi, người nọ cách người kia một quãng, không ai chịu làm lành, trời tối sập không hay. Đêm vùng cao sương lạnh giăng màn, thê lương cú rúc, lẫn trong tiếng thác đổ có cả tiếng hổ gầm… Núi rừng cứ như đẩy hai người xích lại gần nhau, buông bỏ giận hờn cho nhau sưởi ấm và nương tựa, để sớm mai dìu nhau về bản trong nụ cười hạnh phúc. Từ đó, con dốc không tên nơi hai người trú đêm được bà con gọi là đèo Yêu, như một lời khẳng định cái tình khăng khít của người vùng cao dành cho nhau.

Lớp học tiếng Anh miễn phí của cô giáo Lý Thị Thiều

Cô bé Lý Thị Thiều cũng vậy, thương cha mẹ ông bà nhiều lắm, thương cả đám trẻ bản Tày thiếu ăn thiếu mặc và khát chữ. Thiều nuôi ước mơ trở thành cô giáo để có thể mang cái chữ về với bản làng, mong đỡ đần được gia đình, dạy học cho các em thơ không có điều kiện đến trường. Năm 2006, Thiều thi đỗ vào Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên, chuyên ngành tiếng Anh.  Ước mơ được đứng trên bục giảng của cô gái Tày đã trong tầm tay, và em cố gắng thật nhiều, học tập miệt mài. Nhưng…

Tai họa ập xuống đầu Thiều vào năm thứ 3 của đời sinh viên. Giữa trận bóng rổ giao lưu với học sinh trong đợt đi kiến tập, Thiều bị ngã rất đau. Ngỡ cũng chỉ phải tĩnh dưỡng ít bữa, nhưng mỗi ngày cô lại thấy chân mình khó bước đi hơn, hai đầu gối trở nên nặng nề, nhức buốt. Vào viện khám, Thiều mới biết mình bị chứng teo cơ dính khớp, đôi chân khó có thể phục hồi…

Thiều kể, nghe bác sĩ kết luận, cô thấy trời đất như sụp đổ, bao dự định những ước mơ bỗng chốc tan thành khói, phía trước chỉ có màn đêm mù mịt,tăm tối không lối thoát, bởi hoàn cảnh gia đình khó khăn làm sao đủ tiền chữa bệnh?!

Gia đình Thiều đã phải bán phần lớn tài sản, từ ruộng vườn, nương ngô, cho đến đàn cá dưới ao, đàn gà trong chuồng…, vay mượn tiền của anh em bà con và vay cả ngân hàng để đưa cô đi khắp các bệnh viện Bắc Kạn,Thái Nguyên và Hà Nội. Chữa bệnh theo Tây y mãi không đỡ, lại chuyển sang Đông y, nhiều bận cả nhà phải thay nhau khiêng Thiều trèo đèo, lội suối, xuyên qua những rừng vầu ẩm ướt, tìm lên những bản Mông trên đỉnh núi cao ngất để đắp thuốc lá ở nhà thầy lang…

Cứ như vậy suốt mấy năm liền, coi bệnh viện là nhà, có những lúc tuyệt vọng Thiều đã tìm đến cái chết, cũng may gia đình phát hiện kịp. Cô cho tôi xem mấy tấm ảnh thời sinh viên, cười buồn: “Ngày trước chân em dài thẳng, khỏe đẹp thế, giờ thì co quắp teo tóp, cứ trái nắng trở trời là đau buốt đến chết đi sống lại”.

Một cơ hội đến với Thiều khi đang điều trị tại Hà Nội, cô được chương trình Vì Bạn Xứng Đáng của VTV3 tặng 54.500.000 đồng để tiếp tục chữa bệnh. Nhìn những giọt nước mắt và sự vất vả hằn sâu trên gương mặt tiều tụy của mẹ, Thiều tự nhủ phải làm điều gì đó giúp gia đình và giúp chính mình, chứ không thể trông chờ may rủi. Mặc cả nhà can ngăn, Thiều quyết định ra viện, quay về bản Cọn Luông.

Đàn gà béo khỏe đông đúc trong trang trại của Thiều

Việc cô làm ngay khi về đến nhà là đầu tư một phần tiền được tặng để gây lại đàn cá. Chiếc ao tắm mát tuổi thơ ngày nào, giờ trong đôi mắt đã “trưởng thành” của Thiều lại thành phương tiện đầu tiên để thực hiện kế hoạch thoát nghèo. Cá nuôi trong ao này rất mau lớn, khỏe mạnh, chẳng bao giờ thấy bệnh tật gì, dù thức ăn chỉ toàn rau cỏ, thảng hoặc có thêm ít ngô vụn, khoai khô. Thiều bảo, chắc là nhờ nguồn nước thiêng của núi rừng quê hương.

Dân nhiều bản ở các xã Xuân La, Giáo Hiệu, Công Bằng, Cổ Linh… thuộc huyện Pác Nặm đều dùng chung dòng suối Bó Lục. Tiếng địa phương, nghĩa là nguồn nước, Lục là 6, suối Bó Lục hội tụ 6 nguồn nước chẳng ai biết xuất phát từ đâu và chảy đi những đâu. Ngày trước người ta đã thả trấu xuống suối để “đánh dấu” dòng chảy và lần theo, nhưng mất phương hướng vì trấu theo muôn vàn lạch nước nhỏ tỏa khắp núi rừng, có người thấy vết trấu ra tận hồ Ba Bể, cách đó 50 km.

Điều kỳ lạ là suối Bó Lục rất thiêng, quanh năm nước đầy ăm ắp, mùa khô nắng lửa dù mấy tháng không mưa cũng không cạn. Nhưng nếu có người đổ rác, phóng uế ra suối là chỉ sau ít bữa, dòng nước đã biến mất như trốn vào lòng đất; phải dọn sạch chất thải, rồi mời thầy mo làm lễ, “lòng thành ăn năn”, mãi rồi nước mới “tái xuất”… Chuyện xưa hư thực chẳng biết thế nào, nhưng dân các bản bảo nhau giữ gìn rất cẩn thận, không ai dám tùy tiện với suối thiêng. Thậm chí có người đi bắt cá, mò được cả đồ bạc cổ dưới suối, cũng chẳng dám mang về.

Nguồn nước để nuôi cá vậy là yên tâm, nhưng lúc mới làm chưa hiểu biết, Thiều thả lẫn lộn các loại cá đủ kích cỡ khác nhau, “cá lớn bắt nạt cá bé”, nuôi chậm lớn. Vừa làm vừa học hỏi, cô mới biết chọn cá giống đồng đều, phân đàn phân loại, cũng như các phương pháp chăm sóc để đàn cá phát triển ổn định, hiệu quả cao.

Song song với nuôi cá, Thiều cùng 2 đoàn viên nữa hợp lực cải tạo mớ ruộng xấu còn lại của gia đình (ruộng tốt đã bán hết để trả viện phí), mạnh dạn đầu tư trồng rau sạch và nuôi gà đồi, lợn bản theo mô hình trang trại. Khó khăn không sao kể xiết khi phải làm mọi việc trên chiếc xe lăn, nhưng lao động cũng trả lại cho Thiều niềm tin vào cuộc sống, tiếp sức cho cô vượt lên số phận nghiệt ngã…

Một năm sau khi về nhà, Thiều đã thu được hơn 72.000.000 đồng từ ao cá, ruộng rau, đàn gà, bầy lợn. Cô đã giúp gia đình trả dần những khoản nợ vay cho cô đi học Đại học và chữa bệnh. Quan trọng hơn, mô hình trang trại đã khẳng định được hiệu quả, điều mà trước đó chẳng ai dám tin cô gái nhỏ thó ngồi xe lăn có thể làm được.

Chiếc xe lăn không cản được Thiều tích cực tham gia hoạt động thiện nguyện

Thành công bước đầu càng khiến Thiều quyết tâm mở rộng quy mô ao cá, ruộng rau, nhưng cô vẫn không quên những khát vọng thời đi học. Rau sạch của cô cung cấp tới bà con trong xã, các cơ quan, trường học… bán 5 bó thu tiền 4 bó. Thiều mở thêm cửa hàng tạp hóa tại nhà, như một cách tăng thu nhập, nhưng cái chính là “chuyển giao” dần việc ở trang trại cho bố mẹ, trong lúc cô “chiếm” căn nhà để vừa kinh doanh vừa tổ chức lớp dạy tiếng Anh miễn phí cho lũ trẻ trong bản Cọn Luông cũng như các bản lân cận.

Được học cô Thiều, lũ trẻ vui lắm và rất chăm chỉ, bản nhỏ cũng vui hơn nhờ tiếng trẻ ríu ran hàng ngày. Trong số học sinh, có em Đặng Thị Diết mồ côi mẹ, bố đau ốm triền miên, gia đình thiếu đói, 15 tuổi mà còi cọc bằng đứa trẻ lên 8. Thiều đã đón Diết về ở cùng, nuôi nấng như em gái, động viên và kèm cặp Diết tiếp tục đến trường.

Thiều còn tham gia công tác Đoàn của xã và là thành viên của nhiều tổ chức nhân ái, cô tích cực làm cầu nối vận động quyên góp hàng từ thiện tặng các bản nghèo trên quê hương Pác Nặm. Cô tâm sự: “Bà con quê em thiếu thốn trăm bề. Mỗi ngày nhìn các em nhỏ co ro đi học trong chiếc áo mỏng manh với đôi chân trần tím tái, một nắm cơm hay mèn mén cũng không chút thức ăn, em lại không thể cầm lòng! Lũ trẻ đã cho em thêm nghị lực và niềm tin vào cuộc sống, em đang bệnh tật nhưng nhìn quanh Pác Nặm còn nhiều mảnh đời khốn khổ bất hạnh quá. Em muốn làm được điều gì đó cho các em nhỏ, cho dân bản, muốn được mang nụ cười hồn nhiên mà em đã bị mất từ lâu đặt lên những đôi môi bé nhỏ ấy”.

Mải mê với công việc, Thiều dường như quên mất bản thân mình. Cô ngỡ ngàng khi bị tôi “bắt cóc” một ngày để đưa cô ra hồ Ba Bể: “Làm sao anh mang cả em với cái xe lăn xuống thuyền được?”. Tôi đùa rằng chuyến đi chơi hồ là phần thưởng tặng kèm 2 chiếc bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và Tỉnh đoàn  Bắc Kạn vừa trao cho Thiều. Cô cười bẽn lẽn: “Các bác trên tỉnh cũng động viên em thôi ạ, em nghe nói trường hợp của em là “đặc cách” vì chưa có bằng khen của xã, của huyện mà lại được bằng khen của tỉnh. Thực sự em cũng thấy mình đã làm được gì đâu…”.

Nụ cười sau giọt nước mắt hạnh phúc của Thiều khi đi thuyền chơi hồ Ba Bể

Và cô gái Tày giàu nghị lực ấy đã để mặc đôi vai gầy guộc rung lên khi những giọt lệ nghẹn ngào rơi xuống khẽ lay mặt nước Ba Bể trong xanh mênh mang bóng núi: “Đẹp quá anh ơi!… Đẹp quá!… Bao nhiêu năm rồi em mới được đi chơi… Anh thử véo má em thật đau xem có phải em đang mơ không?!”

Có lẽ cũng lâu lắm rồi Thiều không khóc thỏa thuê như thế. 5 năm qua, ròng rã đi khắp các viện từ tỉnh đến trung ương, có lần 8 tháng liền nằm bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), biết bao lần cô phải nghe bác sĩ Tây y lạnh lùng kết luận “em phải chấp nhận ngồi xe lăn suốt đời”, hoặc thầy thuốc Đông y trầm ngâm “bệnh của cháu phải kiên trì chữa, có thể nhiều năm mới bớt”…

Mỗi lúc nghe vậy, Thiều thường gạt nhanh giọt nước mắt tủi thân để không ai nhìn thấy. Cô còn nhiều việc lắm: phải mở rộng ao nuôi thêm cá, xây kè bờ chắc chắn để những cơn lũ ống lũ quét bất chợt ở vùng cao không gây thiệt hại cho đàn cá; phải quy hoạch lại trang trại để tận dụng hết từng khoảnh đất, cứ học theo Hà Nội ấy – chỉ một ô nhỏ xíu cũng thành cửa hàng tấp nập; phải tìm thêm đầu ra để tiêu thụ ổn định các “sản phẩm sạch”; phải sửa lại căn nhà, dành thêm chỗ cho lớp học tình thương và kiếm thêm đồ dùng học tập cho lũ trẻ…

Người ta bảo chỉ cần vững niềm tin, phía trước sẽ luôn là bầu trời. Thiều tự tin vần xe lăn trên con đường gập ghềnh, vì cô biết sau lưng cô luôn có bản Tày thân thương dưới chân đèo Yêu với cái ao nhỏ in bóng khoảng trời của riêng cô.

Nguyễn Việt