Chuyện ghi ở “nóc nhà xứ Nghệ”

Pu Xai Lai Leng (tiếng Thái, nghĩa là núi cao chạm trời) – ngọn núi hoang sơ cao nhất dãy Trường Sơn, quanh năm mây mù bí ẩn, nằm ở xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Sau những bước chân Biên phòng tuần tra, chúng tôi là đoàn “dân sự” đầu tiên trèo lên đỉnh núi cao 2.711m. Không chỉ là một lần thỏa mãn thú vui leo núi, chuyến đi này còn ghi dấu những trải nghiệm khó quên về một dải biên cương ấm áp tình người và hứa hẹn những tiềm năng.

DSC_4367

Bản Mông bên sườn núi

Bài 1: Theo bước chân Biên phòng

Từ đường Hồ Chí Minh, ngược Quốc lộ 7A về phía cửa khẩu Nậm Cắn, qua huyện Anh Sơn, huyện Con Cuông, qua thị trấn Hòa Bình của huyện Tương Dương khoảng 17 km đến cầu Khe Kiền. Từ đây vào xã Na Ngoi của huyện Kỳ Sơn còn 30 km nữa. Con đường nhỏ nhưng trải nhựa êm ro uốn lượn bên những nếp nhà sàn mới dựng khang trang của bản Mông, bản Thái và đồi nương mượt mà, rừng cây mỡ màng sau cơn mưa sớm.

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đều có đầy đủ công trình vệ sinh, giếng khoan và bồn chứa nước sạch bằng i-nốc. Con đường có được từ dự án quốc phòng, Làng Thanh niên lập nghiệp đã giúp hàng trăm hộ dân Na Ngoi vơi bớt khó khăn và có điều kiện phát triển kinh tế… Cũng còn khoảng hơn chục cây số mặt đường gập ghềnh đất đá, nhưng chiếc Ford Laser 4 chỗ gầm thấp, dù vất vả vẫn có thể trườn qua được.

Ra đón chúng tôi là Thiếu tá Cao Bá Diên – Chính trị viên phó Đồn Biên phòng 545 cùng hai sĩ quan nữa: Thiếu úy Khoa – Quân y và Thiếu úy Rê, người dân tộc Mông. Anh Diên cười tươi: “Đường sá được thế này là tốt lắm rồi nhà báo ạ. Đường nhựa mới xong từ 2006, hồi trước muốn vào Đồn phải đi bộ 2 ngày vượt 30 km đường núi, màn trời chiếu đất là thường”.

Lên xe, anh Diên cho biết thêm: Đồn 545 đứng chân trên địa bàn xã Na Ngoi, có nhiệm vụ phụ trách, quản lý chính diện đoạn biên giới dài 15km. Đây là một xã vùng sâu của huyện Kỳ Sơn, địa bàn rộng, với 784 hộ/5.034 khẩu, toàn xã có 16 bản dân tộc Mông, 1 bản dân tộc Thái và 1 bản dân tộc Khơ Mú. Với độ cao trung bình trên 1000m so với mặt nước biển, khí hậu nơi đây vô cùng khắc nghiệt, gây nhiều khó khăn cho công tác và lao động sản xuất. Cuộc sống của cán bộ, chiến sỹ và đa số đồng bào trên địa bàn còn rất thiếu thốn. Trước đây, người Mông ở Na Ngoi di cư nhiều do tập quán, cuộc sống khó khăn, nhiều người nghiện thuốc phiện…

Puxailaileng 09-11 108

Cuộc sống tách biệt trên núi cao khiến việc gì cũng khó khăn, vất vả

Năm 2003, thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ biên phòng về cắm bản, một đồng chí Đồn phó được cử về làm Phó bí thư Đảng ủy xã, cùng 5 đồng chí khác về sinh hoạt tại 5 chi bộ bản. Bộ đội Biên phòng “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” với đồng bào dưới chân núi Pu Xai Lai Leng. Bộ đội đã giúp dân khai hoang phục hóa hàng trăm ha trồng lúa nước, đào ao thả cá, hỗ trợ cấp cá giống, cho nhân dân vay vốn phát triển chăn nuôi, hướng dẫn chuyển đổi từ 1 vụ/năm lên 2 vụ/năm, phát triển chăn nuôi gia súc tập trung, mô hình kinh tế hộ gia đình, phát triển nuôi trồng các loại cây, con đặc sản như khoai sọ, gừng, bí xanh, gà đen, lợn đen… Mô hình trồng dong diềng và trồng khoai sọ của Đồn Biên phòng 545 đã giúp hàng trăm hộ gia đình thoát nghèo.

Nói thì tóm tắt như vậy, nhưng thật khó mà diễn tả hết vô vàn trở ngại mà những người lính mang quân hàm xanh phải vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ. Thiếu úy Khoa kể: “Trước kia, đi tìm dân để tuyên truyền vận động, có khi cả ngày chưa đến nơi. Người Mông quen sống trên núi cao, các bản cách xa nhau. Để đến được một bản chỉ mươi nóc nhà, bọn em phải leo núi 8-9 tiếng, leo xuống cũng mất đến 5-6 tiếng”.

Gặp dân đã khó, nhưng để bà con làm theo còn khó hơn bội phần. Bộ đội Biên phòng và Đoàn 4 Kinh tế quốc phòng phải mời chủ tịch xã, già làng, trưởng bản và tất cả bà con đến chân ruộng xem bộ đội làm lúa nước, vừa làm vừa hướng dẫn tỉ mỉ cho dân. Đến khi thu hoạch, dân bản mới thực sự tin tưởng vào cách làm ăn mới. Sau từng mùa, diện tích lúa nước được bà con nhân rộng ngày càng nhiều, giảm dần cảnh đói cơm, đứt bữa…

Puxailaileng 09-11 006

Lớp học Mầm non mới được tài trợ xây dựng ở Na Ngoi

Bộ đội đã tổ chức các lớp tập huấn về kiến thức chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh môi trường; hướng dẫn dân bản trồng keo, muồng đen, săng lẻ, lát. Bộ đội ươm hàng vạn bầu chè shan tuyết cung cấp cho bà con trồng; hướng dẫn dân bản mở mang đất trồng rừng, trồng cây ăn quả. Mỗi năm bà con thu hoạch từ 100 đến 200 tấn dong riềng, đều được bộ đội thu mua với giá cả hợp lý, chế biến thành miến dong nhãn hiệu “Pù Chai”…

Đồn Biên phòng 545 nằm trên đỉnh đồi lộng gió, khuôn viên nhà cửa khang trang và sạch bong. Trung tá Trần Văn Viện – Đồn trưởng thân mật đón chúng tôi và đích thân sắp xếp chỗ nghỉ cho từng người. Từ sân đồn nhìn ra xa những bản làng quây quần ấm áp khói bếp chiều và ánh điện lấp lánh khi đêm xuống như sao sa giữa núi rừng trầm mặc, thật khó hình dung chỉ mấy năm trước thôi nơi đây vẫn là vùng đất lạc hậu và bất ổn.

Trước khi lên đây, tôi xem trên Google, chỉ thấy bên cạnh những thông tin giới thiệu hết sức sơ lược là một vài bài viết ngắn kiểu như “Đánh phỉ dưới chân núi Pu Xai Lai Leng”… Đem chuyện này hỏi Đồn trưởng Viện, anh gật đầu xác nhận: “Vùng này trước kia hoang vắng lắm. Dân cư thưa thớt, nghèo đói, hủ tục và nghiện hút nhiều. Lắm người đi làm phỉ cũng chỉ vì đói, vì nghiện… Phải mất nhiều năm bộ đội kiên trì vận động, làm mẫu cho dân làm theo, mới dần tạo thói quen định canh định cư, phát triển kinh tế để thoát nghèo, loại bỏ dần hủ tục. Đó cũng chính là nền tảng vững chắc để làm tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ biên cương”.

Puxailaileng 09-11 015

Bữa ăn của các giáo viên cắm bản chủ yếu là cơm với măng rừng

Được biết, Trung ương Đoàn đầu tư 29 tỷ đồng xây dựng Làng Thanh niên lập nghiệp ở Na Ngoi, nhằm giúp đồng bào người Mông nơi đây thay đổi nhận thức trong canh tác, để phát triển kinh tế và an cư lâu dài. Đồn Biên phòng 545, Bộ đội Đoàn 4, Làng thanh niên lập nghiệp Na Ngoi đã phối hợp xây dựng mô hình trồng lúa nước hai vụ, trồng gừng, trồng dong riềng để dân bản học tập.

Bước chân các anh bộ đội, các thầy cô giáo kiên trì ngày này qua tháng khác đến tận từng nhà đã đưa hầu hết con em đồng bào Mông trong độ tuổi đi học đến trường. Từ khi có đường, điện, truyền hình và cả sóng điện thoại di động, dân bản vui lắm; tình trạng tái trồng cây thuốc phiện, vào rừng săn bắt thú đã giảm hẳn. Không chỉ biết cách làm ăn, các chàng trai cô gái người Mông giờ còn biết tập quân sự, quàng súng trên vai cùng Bộ đội Biên phòng tuần tra biên giới.

Theo chân những người lính Biên phòng vào các bản, điều dễ nhận thấy là tuy cái nghèo còn hiện hữu, song cái đói đã lùi xa, thậm chí một số hộ đã phát triển kinh tế đến mức khá giả. Trên lối mòn cheo leo sườn núi, chúng tôi gặp những người Mông thong thả dong đàn trâu mộng béo căng từ rẫy về, hoặc đeo những gùi nặng đầy dưa chuột núi mới hái trên nương. Ai cũng tươi cười “mời bộ đội và các anh ghé nhà uống nước” và khoe vụ gừng vừa rồi trúng lắm, có tiền mua áo ấm mới cho con rồi…

Trở lại đồn, anh em Biên phòng đón tiếp chúng tôi bằng một buổi liên hoan đầm ấm tình quân dân. Chúng tôi lại được cất vang lời ca cùng những người lính phong trần mộc mạc bên ly rượu nồng men lá. Trung tá Viện kiên quyết không nhận “phần góp gạo thổi cơm chung” của 17 thành viên đoàn công tác, chỉ nhắc chúng tôi nghỉ sớm lấy sức mai leo núi. Đêm núi rừng xuống nhanh, mới giữa thu đã lạnh, nhưng ai cũng ấm lòng với tình cảm chân thành của những người lính chốn biên cương.

Bài và ảnh: Nguyễn Việt

Puxailaileng 09-11 115

Trẻ em ở Na Ngoi phải lên nương hái dưa giúp cha mẹ

 

Bài 2: Lên đỉnh Pu Xai Lai Leng