Chuyện bên “hồ nước trời” trên núi đá

Dãy núi Quèn Thờ nằm ở phía tây xã Đông Sơn ví như “nóc nhà” của thành phố Tam Điệp (tỉnh Ninh Bình). Được tính là “đất ngoại ô”, nhưng đường vào gập ghềnh xẻ núi, phải qua mấy “cổng trời”, nhiều chỗ hoang sơ cỏ dại, bụi rậm um tùm, lam sơn chướng khí. Song đi đến “kịch đường” lại thấy một “ốc đảo” trong thung lũng xanh ngời, hồ mênh mông cá quẫy soi bóng rừng cây, với đàn hươu và bầy dê đông đúc nhởn nhơ gặm cỏ.

Đường vào xã Đông Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình

“Gã khùng” và kỳ tích “cá núi, dê rừng”

Sông tựa dải là cô gái đẹp
Núi như chén ốc khách làng say
Trăng non gió mát kho vô tận
Chỉ sợ nhà thơ mãi ở đây…

Nghe khách cao hứng ngâm ngợi bài “Trên đường đi Ninh Bình” của Cao Bá Quát, anh Trịnh Văn Đàm cười khùng khục: “Hơn 20 năm trước, khi tôi trèo núi vào đây kiếm đất lập nghiệp, cả làng đều gọi tôi là “gã khùng”.

Cảnh ở đây đẹp tuyệt, non nước hữu tình, xã Đông Sơn có 12 thôn thì đến 7 thôn được công nhận làng nghề truyền thống, chuyên trồng đào Tam Điệp, tương truyền có từ thời Quang Trung hoàng đế mở hội khao quân trước khi tiến ra Thăng Long đánh tan 290.000 quân Thanh. Cả vùng có khoảng 1.000 hộ trồng giống đào phai đặc biệt này, mỗi độ xuân về các sườn núi lại bừng lên sắc hồng của những bông hoa nhiều tầng cánh giống đào bích nhưng màu nhạt hơn, mơn mởn như màu má thiếu nữ…

Nhưng đó là phía ngoài, còn khu vực thôn 12 – thôn mới nhất của xã Đông Sơn – 20 năm trước là chốn không người, núi vây bịt bùng. Anh Trịnh Văn Đàm sinh năm 1972, quê gốc huyện Yên Mô, cả đại gia đình sống với 5 sào ruộng, lo đủ ăn đã là chuyện nan giải. Thuở thanh niên, anh đi lính nghĩa vụ, 3 năm ôm pháo cao xạ phòng không tầm thấp. Xuất ngũ về quê, cảnh nhà vẫn xác xơ, ngoài làm ruộng chẳng biết nghề gì, tính buôn bán nhỏ cũng không xoay đâu ra vốn. Không buông xuôi trước khó khăn, anh Đàm gom góp được 2 triệu đồng, vác con dao rựa với mấy bộ quần áo, ít lương thực và hạt giống, một mình mò mẫm vào sâu trong dãy núi Quèn Thờ.

Ngày ấy vùng này hoang vắng đến rợn người, dãy núi đá vòng cung rậm rạp, đi mỗi bước đều phải phát cây vạch cỏ. Anh cười giòn: “Cả nhà gàn, đến lúc ngăn không được thì bảo đừng đi một mình! Nhưng nếu có người đi cùng thì giữa ban ngày chỉ cách vài mét đã không nhìn thấy bóng, vì rừng quá rậm, còn đêm về chỉ nghe gió hú, bốn bề đen đặc”.

Đó là chưa kể, hồi đó vùng này còn có 2 trại giam, các phạm nhân sắp mãn hạn thường được trại giao vào núi chăn bò. Đám người này phần lớn xuất thân dao búa, trước mặt quản giáo thì hết mực “ngoan hiền phục thiện”, nhưng hễ gặp dân đi rừng là cà khịa, “xin đểu”… nên phải “cứng bóng vía” mới không bị bắt nạt.

“Hồ nước trời” trong trang trại của anh Đàm

Hỏi sao lại bỏ ruộng lên rừng một mình? Anh trầm ngâm: “Cái số tôi cũng lạ, cái gì lẳng lặng làm một mình sẽ thành, còn làm cùng người khác thế nào cũng hỏng. Ôm chí làm giàu, tôi đã sang bên huyện Nho Quan học cách nuôi dê, vấn đề làm tìm nơi thích hợp để lập trại”.

Miền “đất hứa” ấy, anh Đàm đã tìm thấy ở cuối dãy Quèn Thờ, nơi núi xếp vòng tròn như hàng rào đá ôm lấy thung lũng cỏ tốt bời bời bên một vùng đất ngập nước mưa như cái hồ tự nhiên xanh màu ngọc.

“Thoáng nhìn một cái là biết ở đây thả cá, chăn dê rất hợp”. Anh Đàm chặt cây lau, bứt dây rừng, dựng túp lều nhỏ, uống nước trong hang núi, vỡ đất trồng ít ngô, khoai, sắn làm lương thực. Tiền dắt lưng chỉ đủ mua cá giống thả xuống hồ “nước trời”, anh quyết định vay thêm tiền mua lợn, gà nuôi thả trong thung lũng cùng 6 con dê đầu tiên.

Chưa có kinh nghiệm, mấy lần dê ốm, chết, tưởng chừng khó theo nghề tiếp. Nhưng đàn cá nuôi trong hồ nước mưa, chẳng mất mấy công chăm sóc mà cứ lớn vù vù, là động lực để anh Đàm kiên gan bám trụ trong rừng. Vất vả triền miên, làm quần quật quanh năm suốt tháng, đất mới không phụ lòng người… Thấm thoắt hơn 20 năm, thung lũng hoang vu ngày xưa đã thành trang trại, với 4 khu chuồng trại kiên cố cho đàn dê đông đúc hơn 200 con và 1 khu nuôi thả 40 con hươu, cùng hồ cá rộng hơn 5 ha.

Đàn dê được thả ăn tự do bên sườn núi

Do núi quây tứ phía, chuồng trại chỉ là “phòng ngủ” cho đàn dê, đàn hươu, còn hàng ngày chúng tự do kiếm ăn ven sườn núi. Chính vì thế, “cá núi, dê rừng” của anh Đàm đã thành thương hiệu, luôn có khách đặt trước; mùa xuân nào cũng có nhiều người tìm vào Quèn Thờ mua “nhung hươu rừng”.

Chuyện tình giữa “hồ nước trời”

“Gã khùng” ngày nào giờ đã là tỉ phú. Thành công đến mức nào mà không có hồng nhan tri kỷ bên cạnh thì cũng coi như bại – anh Đàm thuộc số những người quan niệm thế. Nhưng anh còn may mắn hơn, khi “hồng nhan” của đời anh đã thành “tri kỷ” từ thuở hai bàn tay trắng.

Thuở còn khoác áo lính, chàng nông dân Trịnh Văn Đàm và thôn nữ Nguyễn Thị Thiếp đã phải lòng nhau. Chị Thiếp sinh năm 1975, cùng làng nên đôi bên không lạ gì gia cảnh của nhau, cũng chính vì thế bố mẹ chị chẳng mặn mà với anh Đàm, không muốn con gái chịu khổ bởi gia đình anh quá khó khăn. Đến lúc anh vào núi Quèn Thờ, bố mẹ chị càng ra sức ngăn cản, lo con gái chân yếu tay mềm không sống nổi nơi lam sơn chướng khí với công việc khai hoang đầy nhọc nhằn, kham khổ.

Lúc lên đường, anh Đàm chỉ dặn người yêu 3 chữ: “Hãy tin anh!”. Và chị Thiếp không những đã tin, mà ít lâu sau đó còn quyết tâm khăn gói theo anh vào rừng. Nhắc chuyện cũ, chị cười bẽn lẽn mà cứng cỏi: “Bố mẹ thương em nên mới ngăn cản. Nhưng cấm đoán là chuyện của người lớn, con trẻ chỉ biết yêu nhau là hết, đâu sợ gì!”.

“Ốc đảo” bình yên và hạnh phúc của anh Đàm – chị Thiếp

Một mái lều tranh hai trái tim vàng, ấy là “thực trạng” của đôi vợ chồng trẻ, họ hạnh phúc dù ngày nào tay chân cũng rớm máu – chuyện vỡ hoang là cả một kỳ tích khi chỉ có sức vóc con người để bạt núi, biến rừng hoang thành tổ ấm. Thương vợ, anh Đàm để chị làm công việc ít vất vả nhất, đó là chăm nom hồ nuôi cá. Sau một vụ, chị Thiếp thấy lượng mưa trong vùng khá ổn định, nguồn nước dồi dào, nhưng do là vùng ngập nước tự nhiên nên đến mùa khô thì “hồ” từ chỗ rộng mấy ha lại cạn gần hết, chỉ còn vài sào nước. Chị bàn với chồng cải tạo  hồ, làm kè ở một số khe núi để giữ nước, hứng được nhiều “nước trời” hơn, tha hồ nuôi cá. Nhờ vậy, vào mùa mưa hồ cá của anh chị rộng đến 5 – 6 ha, thời điểm khô cạn nhất cũng còn 2 ha.

Anh chị thả nhiều loại cá “phổ thông” như trắm, chép, trôi, mè… để thử nghiệm và kết luận là hồ nước mưa nhiều rêu, tảo, là nguồn thức ăn tự nhiên vô tận cho cá mè, cá trôi. Nước trong hồ thường xuyên “luân chuyển”, một phần thấm vào đất, rồi lại được “bổ sung” sau mỗi cơn mưa, vì thung lũng như cái phễu hứng nước. Bốn phía có núi chặn, nguy cơ ô nhiễm hầu như không còn. 20 năm nuôi cá, đàn mè, đàn trôi nào cũng béo khỏe, chẳng bao giờ đau ốm gì, “cá sạch” 100%. Tuy nhiên các loài cá này giá trị thấp, cá trắm và cá chép có giá gấp đôi, cũng được anh chị thả nhiều.

Chị Thiếp kể: “Hàng ngày em cắt rau cỏ cho cá ăn, cá trắm lớn nhanh nhất do phàm ăn nhất, nhưng phải lưu ý hôm nào nắng to chỉ cho cá ăn “lửng dạ”, chứ ăn no quá thì cá trắm dễ chết, mà cứ con to chết trước con bé. Hễ thấy cá nổi nhiều, bơi chậm là cá mệt, em bứt lá xoan rừng thả từng bó quanh hồ, bài thuốc dân gian này chữa bệnh cá rất tốt”.

Chị còn giúp anh tự tay đỡ đẻ cho những chú dê sơ sinh đầu tiên, cùng anh trắng đêm chăm sóc đàn dê những lúc chúng “trở chứng” đổ bệnh…

Ngày nào, anh Đàm cũng chèo thuyền đi kiểm tra một vòng trong thung lũng

Chồng chăn dê, vợ chăm cá, túp lều nhỏ đã thành mái ấm, “yêu nhau chẳng chiếu chẳng giường – chỉ cần tàu lá che sương cũng tình” . Nhưng không thể sống tạm bợ mãi, anh chị chắt chiu dành dụm tiền dựng nhà. Có tiền rồi, anh Đàm xuống núi tìm thuê thợ, nhưng nghe bảo xây ở Quèn Thờ, từ chủ thầu đến phụ hồ đều lắc đầu quầy quậy. Anh Đàm cười nhẹ: “Chẳng trách họ được. Đường vào hồi đó là lối mòn gập ghềnh heo hút, dốc ngược, chỉ lọt một người đi. Tất cả vật liệu phải chuyển từ xóm ngoài vào, nơi tập kết gần nhất cũng cách 4 km, phải vác từng viên gạch mà leo núi, ai cũng ngán”.

Không thuê được thợ, anh Đàm vác búa lên núi đập đá về tự xây nhà. Chẳng biết chút gì về xây dựng, vật liệu lại chỉ có những tảng đá đẽo nham nhở và trộn vôi với đất để làm vữa, ngôi nhà cứ xây lên được ít hôm lại đổ. Chị Thiếp vừa kể vừa nhìn chồng ngưỡng mộ: “Đổ nhà mất 4 lần, sau đó ông xã phải vác xi măng về mới xong”. Anh Đàm tủm tỉm: “Đúng ra phải nói là vác 1 vai, vì lắm chỗ khe hẹp không xoay trở được, mỏi rã rời mà không đổi được bao xi măng từ vai này sang vai kia. Nghĩ thương cô ấy lặn lội lên núi theo mình mà mình không lo được chỗ ở tử tế sao đành, tôi cứ ròng rã vác từng bao xi măng cho đến lúc đủ xây nhà”.

Ngôi nhà mơ ước đã mọc lên trong thung lũng tình yêu, 3 đứa con gái lần lượt chào đời. Công việc làm ăn thuận lợi, trang trại ngày càng phát đạt, doanh thu năm nào cũng tiền tỉ, trong đó lãi ròng 500 – 700 triệu đồng. Dù đã có thêm người làm công, lại mua được nhà ở thành phố Tam Điệp để tiện cho các con ăn học, vợ chồng anh Đàm vẫn gắn bó sớm tối với núi Quèn Thờ.

Anh Đàm tâm sự: “Nếu không có vợ động viên, sát cánh cùng tôi vượt khó,  chắc chẳng thể nào có được cơ ngơi hôm nay. Hai mươi năm sống với nhau trong này, chưa một lần vợ chồng to tiếng. Rừng núi đã cho gia đình tôi quá nhiều, nên cũng không muốn sống ở chỗ nào khác”.

Trang trại trên núi ngày càng phát đạt, doanh thu năm nào cũng tiền tỉ

Không chỉ phát triển đàn dê, đàn hươu và hồ cá, anh chị còn trông nhiều cây ăn trái, phủ thêm sắc xanh cho thung lũng tình yêu. Đặc biệt, trên diện tích hơn 30 ha khai phá được ven các sườn núi,  vợ chồng anh Đàm đã trồng 10 vạn cây sưa. Anh cười hào sảng: “Giống gỗ quý này phải 40 – 50 năm nữa mới thu hoạch được, đời vợ chồng tôi chắc khó được nhìn thấy thành quả. Nhưng cứ trồng cho con cháu, mà vạn nhất sau này vật đổi sao dời, chính sách thay đổi, gia đình mình không được hưởng thì cũng sẽ có người khác được hưởng. Như vậy là tôi vui rồi!”.

Làng kinh tế mới bên lũy Quèn Thờ

Trang trại của anh Đàm bán cả dê thịt và dê giống, tùy con to nhỏ hiện giá từ 120.000 – 170.000 đồng/kg, dê càng to giá càng rẻ. Cá thì mỗi năm thu hoạch 1 vụ chính, vào thời điểm nước cạn nhất, còn hàng ngày vẫn thả lưới phục vụ khách mua lẻ. Những lúc cao hứng, có thể buông cần giật ít con thết khách. Cá nuôi trong hồ “nước trời” thịt săn chắc và ngon ngọt còn hơn cá sông.

Ở sâu trong núi, nhà anh Đàm vẫn thường xuyên có khách đến đặt hàng, học hỏi kinh nghiệm nuôi dê, thả cá. Ai đến cũng được anh chị tiếp đón chân tình và hướng dẫn cặn kẽ về kỹ thuật nuôi. Hôm chúng tôi ghé trang trại, cũng có mấy người ở Hưng Yên tìm về, giữa trưa nắng mà anh Đàm chẳng ngại chèo thuyền đưa khách tham quan, tận tình chỉ bảo cách kè hồ trữ nước mưa nuôi cá, cách dựng chuồng trại và chăm sóc, nuôi dê thả…

Sau anh Đàm “tiên phong mở đường”, một số người địa phương học theo, tìm vào Quèn Thờ lập nghiệp, dần hình thành làng kinh tế mới với hơn 130 hộ, khai hoang lập ấp trên tổng diện tích 600 ha, chủ yếu là đất sườn núi và thung lũng.

Khách đến trang trại được anh Đàm hướng dẫn cặn kẽ cách chăn dê, thả cá, nuôi hươu

Được các cấp Hội Nông dân trong tỉnh hỗ trợ, một số hộ đã tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển kinh tế. Đến nay, hầu hết các hộ trong thôn 12 đều có trang trại, nuôi các giống “đặc sản” như hươu, nhím, ngựa lợn cắp nách, gà đồi… nhưng nhiều nhất vẫn là dê núi, và rất nhiều hộ nuôi cá trong các hồ nước mưa tự nhiên đã được cải tạo. Từ chỗ thiếu đói, không ít hộ vươn lên thoát nghèo bền vững và trở thành hộ khá giàu.

Đặc biệt, vùng Quèn Thờ đã thành lập được tổ hợp tác “sản xuất và tiêu thụ cây, con đặc sản”, hỗ trợ nhau ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi để nâng cao hiệu quả sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, hạn chế làm ăn kiểu tự phát, chủ động tìm đầu ra ổn định.

Cạnh trang trại của vợ chồng anh Đàm là trại của gia đình cụ Đào Xuân Hoành,  83 tuổi. Gặp chúng tôi, cụ niềm nở ngâm bài thơ mới viết:
Mời du khách đến thăm trang trại
Xem đàn dê leo hái lộc non
Dãy ao nuôi cá liên hoàn
Đây bò ăn cỏ, kia đàn gà chơi…

Ở ngôi nhà xây thoáng mát
Quanh năm đều có việc làm
Trời phù trường thọ an khang
Đất làm ra bạc ra vàng mai sau…

Lộc hươu lúc nào cũng được giá

Sau nhiều năm khai hoang giống anh Đàm, kinh tế gia đình đã ổn định, cụ Hoành giao lại ao cá, đàn dê và ruộng vườn cho con cháu, chuyên tâm làm cụ từ, hương khói ở đền Quèn Thờ. Cụ Hoành giải thích: Quèn là tiếng địa phương gọi lối mòn quanh co trong núi, cái tên Quèn Thờ hình thành do trên núi có đền thờ thần Cao Sơn. Thần là con thứ 17 của vua Lạc Long Quân, cũng là một trong 50 người con theo mẹ Âu Cơ nên núi, được phong chức Lạc tướng Vũ Lâm, trấn ngự vùng núi phía tây Hoa Lư tứ trấn từ thời Đinh.

Thần Cao Sơn có công bảo vệ dân khỏi các thế lực phá hoại, dạy dân cách làm ăn, tìm ra một loài cây thân có bột dùng làm bánh thay bột gạo (dân địa phương vẫn gọi là cây quang lang hay cây búng báng) cứu đói cho dân, nên khắp vùng Ninh Bình đều có đền thờ thần: đền Núi Hầu (Yên Thắng –Yên Mô), đền Quảng Phúc (Yên Phong – Yên Mô), đền Láo (Văn Phú, Nho Quan), đền Sơn Thần (Gia Thủy – Nho Quan), đền Hương Thịnh (Phú Lộc, Nho Quan), đền Vô Hốt (Lạc Vân, Nho Quan), miếu Cao Sơn (Kỳ Phú, Nho Quan), đền Gối Đại (Ninh Hải – Hoa Lư), đền Cao Sơn (khu núi chùa Bái Đính)…

Tại xã Đông Sơn, Tam Điệp, tương truyền đền Quèn Thờ xưa được dựng ở lưng núi. Khi thân chinh ra Bắc, vua Quang Trung đã lên đền thắp hương xin kế phá giặc. Vua được thần báo mộng và nhắc nhở xây đền lên đỉnh núi nếu thắng trận. Đại phá quân Thanh xong, vua đã làm theo lời thần, và đền Quèn Thờ được xây trên đỉnh núi, còn đến ngày nay. Bên gian chính thờ thần Cao Sơn, còn có 2 gian nhỏ thờ Quang Trung hoàng đế và Hồ Chủ tịch.

Một góc đền Quèn Thờ

Lũy Quèn Thờ nằm dưới chân đền, thuộc Khu di tích phòng tuyến Tam Điệp, nơi hội quân một thời oai hùng của Quang Trung hoàng đế. Luỹ được dựng để khống chế con đường mòn xuyên núi, cách luỹ Tam Điệp khoảng 5 km. Luỹ Quèn Thờ gồm 3 lớp là Luỹ Chẹn, Luỹ Đệm và Luỹ Đền, nay vẫn còn di tích Lũy Đền trên sườn núi dài hơn 20m, kè bằng đá.

Đứng trên đền hoặc lũy Quèn Thờ, có thể bao quát cả vùng Đông Sơn hiểm trở ngày xưa, nay đã thành làng kinh tế mới trù phú, vườn tược xanh tươi, rải rác những hồ nuôi cá nước lấp lánh dưới nắng trưa. Giống đào rừng xưa vua Quang Trung cho chặt đem về doanh trại, động viên quân sĩ ăn tết sớm trước khi tiến ra giải phóng Thăng Long, nay đã thành một trong những thương hiệu của Đông Sơn, bên cạnh “cá núi, dê rừng”.

Dẫn chúng tôi lên đền dâng hương, giữa tiếng chuông ngân nga trong gió ngàn lồng lộng, cụ Hoành lại thư thái ngâm nga:
Từ lúc sơ khai đi vùng kinh tế mới
Cây cối um tùm trèo đèo lội suối
Đường mòn vách đá cheo leo
Nhát cuốc, đường bừa tưởng gắn với phận nghèo…
Nhưng nay thì:
… Điện cao thế đã có từ lâu
Đường bê tông thênh thang xuyên núi
Rộn ràng khách đến nơi đây
Cây con đặc sản tuyệt vời
Rượu Quèn Thờ ngấm tình người ngất ngây …

Nguyễn Việt

Đào phai Đông Sơn nở rộ đón xuân