“Cây ổi cười” bên rặng Thiên Thai

Dãy núi Thiên Thai (huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) có 9 ngọn, được ví như con rồng uốn khúc. Yên Sơn có thể coi là “khúc đầu tiên”, án ngữ sát bờ sông Đuống. Người trần mắt thịt, chẳng nom rõ khúc này giống “đầu rồng” hay “đuôi rồng”, chỉ thấy 2 bên mặt núi, thuộc 2 thôn láng giềng ở xã Lãng Ngâm, có 2 ngôi chùa cùng tựa lưng vào núi. Chùa Tĩnh Lự và chùa Thiên Phúc.

Chùa Tĩnh Lự lớn hơn, tọa lạc tại thôn An Quang, nổi danh lâu đời. Tương truyền, vua Lý Thánh Tông đã cho xây chùa Tĩnh Lự cùng với chùa Đông Lâm (còn gọi là chùa Thiên Thai, thuộc đất xã Đông Cứu) trên dãy núi Thiên Thai. Tại chùa Tĩnh Lự vẫn còn tấm bia đá “Tĩnh Lự Thiền Bi Ký” do Tiến sĩ Nguyễn Duy Thì soạn thảo năm 1648. Còn chùa Thiên Thai, nghe nói thời xưa nằm trên đỉnh núi, giữa vườn hồng đào rực rỡ mỗi độ xuân về, hoa nở thành chùm như đuôi cáo. Vật đổi sao dời, chùa Thiên Thai giờ “chuyển” thành gần chân núi, song vẫn khá to rộng, bề thế.

So với các “tiền bối” Đông Lâm và Tĩnh Lự, thì chùa Thiên Phúc ở thôn Ngăm Mạc (xã Lãng Ngâm) đúng là xếp hàng con cháu, cả về quy mô lẫn tuổi đời. Sư thầy Diệu Trang một mình coi sóc chùa Thiên Phúc, cho hay: Vua Tự Đức trong 1 lần đi tuần du bằng thuyền trên sông Thiên Đức (sông Đuống), ghé bến này. Thích cảnh non nước hữu tình, nên dù trong vùng đã có nhiều chùa chiền, vua vẫn sai dựng thêm 1 ngôi chùa nhỏ sát bờ sông, đặt tên Thiên Phúc.

Mai vàng sân chùa

Trải qua nhiều đợt lũ lụt thiên tai, bờ sông sạt lở, rồi đến chiến tranh loạn lạc, chùa 5 lần phải di dời đến chỗ cao hơn, “tịnh tiến” dần lên núi Yên Sơn. Đất bên sông có phù sa bồi đắp phì nhiêu, còn 9 ngọn Thiên Thai, bao gồm cả ngọn Yên Sơn, đất cằn cỗi bạc phếch lẫn đầy đá tảng. Vườn hồng đào xưa, chẳng biết sao mọc nổi. Chứ giờ, ngoài bụi rậm với cây tạp, chỉ có loài thông và những hàng keo bám trụ được trên triền núi.

Nên cũng lạ, khi cây cối trong sân chùa cứ xanh um tỏa bóng. Mấy cây mít cổ thụ chi chít trái non mỡ màng. Cây trấp – vốn trước về nông thôn thấy khá nhiều, giờ hiếm gặp – quanh năm cần mẫn đơm hoa vàng, quả chín rụng đầy gốc. Sư thầy Diệu Trang, khi chưa xuất gia, từng là cô gái Hà thành. Xưa người phố cổ rang hạt dưa đãi khách, nay sư thầy “sáng tạo” nhặt hạt trấp đem rang, vị bùi như hạt dẻ.

Vui chuyện, sư thầy dẫn khách đến gốc ổi bên bậc thang lên điện thờ Phật, ngay lối vào chùa. Cây ổi nhỏ, 1 nhánh đã khô mục phải cắt bỏ, chỉ còn 2 nhánh, trong đó 1 nhánh vươn cao, 1 nhánh thì “trấn ải”, uốn cong thành vòm ngang lối, như cổng chào, khách muốn qua phải cúi thấp. “Chú xem, như thể chưa vào chùa đã cúi đầu bái Phật vậy” – sư thầy Diệu Trang cười hồn hậu – “Giờ chú lấy ngón tay xoa nhẹ vào thân cây ổi thử đi”.

Sư thầy Diệu Trang bên “cây ổi cười”

Ô lạ chưa! Trời im gió, xoa rất nhẹ, mà lá ổi rung rinh trên ngọn. Xoa bên nhánh nào, chỉ có lá ở nhánh đó xao động, còn ở nhánh bên kia lá vẫn bất động. Thử “đổi bên”, thấy “hiệu ứng” tương tự. “Chú xoa nhẹ như cù, nên ổi cười đó” – sư thầy lại cười, vui vẻ khi thấy khách thích thú xoa liên tục.

Trước chỉ biết có “cây ổi cười” được xem là độc nhất, khá nổi tiếng, ở khu di tích Lam Kinh (Thanh Hóa), bên lăng mộ vua Lê Thái Tổ. Trên mạng có hàng loạt bài viết và video clip về cây ổi này, với những cái tít “giật” như là “huyền bí”, “bí ẩn”, “ngã ngửa”, “chuyện lạ có thật”… Nay được mục sở thị “cây ổi cười” thứ hai, chưa nghe “giang hồ đồn đại” đã được trải nghiệm thú vị.

Chẳng trách, khi tôn tạo chùa, xây thêm công trình, thợ đòi chặt cây ổi, sư thầy kiên quyết không cho, giữ cả cây trấp, cây mít nữa. “Không chỉ vì cây ổi độc đáo “biết cười” đâu chú ạ. Phải bao nhiêu năm ròng, cây mới vươn cành tỏa bóng được như bây giờ, chặt đi sao đành! Tôi về tu tại chùa này 8 năm trước, đã thấy cây ổi này rồi, trông nhỏ vậy chứ không biết đã mấy chục tuổi. Cây mọc trên sườn núi đá nhiều hơn đất, nên chỉ cao được chừng ấy, nhưng cành khô mục toác vẫn trổ lá xanh, quả vào mùa khá sai, ngọt lắm.”

Cành ổi như chiếc “cổng chào” tự nhiên ngang lối lên điện thờ

Nửa đùa nửa thật thưa với sư thầy, có lẽ “cây ổi cười” chính là thứ “gây ấn tượng” nhất chuyến nhàn du Gia Bình lần này. Nói nhỏ sợ các cụ mắng, chứ xem ra người xưa “dễ tính”, mấy hòn núi nhỏ, cao chỉ 100 – 150 m, cảnh sắc “thường thường bậc trung”, đã xưng tụng đến “cảnh giới Thiên Thai” ư?!

Có lẽ ngàn năm trước, thời nhà Lý, sơn thủy chốn này hẳn phải bậc danh lam, ngút ngàn cổ thụ, rợp bóng mây lành chăng? Vậy nên mới là ngọn núi thiêng trong tâm thức dân chúng quanh vùng. Các làng quanh núi có tục khi đặt mộ cho người quá cố, phải hướng mặt về phía núi Thiên Thai, như ước nguyện linh hồn các cụ sẽ được vân du tiên cảnh.

Du khách hậu sinh kém phước, giờ dạo núi thấp tè, chưa chồn gối đã hết. Leo lên Thiên Thai chẳng còn vườn hồng, chỉ gặp mớ lô-cốt với công sự quân Pháp xây thời còn chiếm nước mình, bê-tông cũ nứt, cây leo lòa xòa che những lỗ châu mai đen ngòm. Trên đỉnh núi, tất nhiên là chẳng có tiên rồi. Bên 2 lô-cốt lớn án ngữ, có mấy cậu lính trẻ đang ăn trưa, nhắc khách không quay phim chụp ảnh một bên “đất quốc phòng”, còn bên kia thì thoải mái.

Lô-cốt cũ do lính Pháp xây trên núi Thiên Thai

Không thất vọng, vì từ lâu đã chẳng còn kỳ vọng, cõi Thiên Thai sao mà dễ tìm thế được. Như mấy năm trước, lần xem sách cũ, đọc lại thơ cụ Nguyễn Khuyến tả chùa Long Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), có câu:
Cổ tự tứ lân duy mộc thạch
Hàn tăng nhất tháp cộng vân yên
(Chùa cổ bốn bên chỉ có cây và đá
Sư nghèo một giường cùng khói với mây)

Đọc rồi, cũng ghé về Hà Nam thăm chùa đấy. Nhưng chẳng cần leo hết cái núi Đọi xinh xinh ấy, cũng “biết thừa” rằng ở độ cao chỉ vài chục thước, mây nào thể sà xuống thấp thế, để “sư cụ ngủ trong mây”(!)… Hẳn là đọc thơ văn các cụ, phải hiểu cái ý khoáng đạt, “hướng thượng”, phiêu diêu. Chứ mà háo hức “áp nghĩa đen”, lên núi chẳng thấy mây, lại bảo “các cụ nói thế nào”. Chính ra tại mình dốt và cứng nhắc. Mây vẫn đầy trời đó thôi, chỉ cần buông bỏ thế sự cùng danh lợi, tự khắc được “ngủ trong mây” đâu có gì khó(!)

Nếu không mang tâm thế luôn nhìn thấy những điều tốt đẹp, chẳng hóa ra cây ổi chùa Thiên Phúc khi bị chạm vào, lá rung như “xua khách” sao? Cứ nghĩ “ổi cười”, chắc chắn vui hơn. Gặp việc gì cũng nghĩ được tương tự thế, chắc không “đắc đạo” thì đời cũng nhẹ nhõm bớt mấy phần, thú vị thêm mấy phần.

Đường lên đỉnh núi Thiên Thai

Chùa Thiên Phúc còn có những điều “thú vị” khác, nhỏ mà không nhỏ. Trong chùa cũng có hòm công đức như tất cả các chùa khác, nhưng ngay sát bên là chiếc hòm thứ hai “to không kém” trong gian chính điện, ghi dòng chữ lớn: “ỦNG HỘ NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM”.

Sư thầy Diệu Trang bảo, hòm đó của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Vĩnh Phúc, để nhờ. “Nhà  chùa đặt 2 hòm cạnh nhau, để khách thập phương tùy tâm công đức, muốn cúng dường hoặc ủng hộ đều hoan hỉ. Hòm của Hội, mỗi năm họ tự mở một lần, thêm kinh phí mua quà tết cho các gia đình nạn nhân nghèo” – sư thầy chia sẻ – “Nhiều khách dâng hương, đặt lễ, thường để cả tiền lên ban, rồi lại xin xuống mang về tiêu. Tôi bảo như vậy thì không phải dâng các cụ, mà cho mình đấy chứ. Cầu bình an cho mình, sao bằng thiết thực giúp người, san sẻ với các thân phận thiệt thòi, như những nạn nhân chất độc da cam. Phải không chú?”.

Nguyễn Việt