Cầu mới mừng xuân, vui hội nhảy lửa cùng người Pà Thẻn

Cầu Đồng Tâm ngày khánh thành

Năm Kỷ Hợi đang đi đến những ngày cuối cùng. Xuân Canh Tý đã thấp thoáng cùng nắng mới thoắt ẩn hiện và mưa phùn bất chợt. Ngỡ đã khép lại một năm ngược xuôi ngang dọc, nghỉ chân café góc phố ngắm hoa đào, bỗng lại náo nức nghe anh Nguyễn Nam Hà – Trưởng nhóm Nhịp Cầu Hạnh Phúc – rủ rê: “Lên Hà Giang đi! Cầu Đồng Tâm xây xong rồi đấy”.

Đi chứ! Như tiền nhân đã đúc kết, một trong những niềm vui lớn nhất đời người là được ngắm niềm vui của người khác. Với bà con người Dao, người Mông, người Pà Thẻn ở thôn Lâm, thôn Pha và thôn Nhạ thuộc xã Đồng Tâm (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang), bao đời nay chỉ có cầu tre qua suối, lần đầu được đi cầu bê tông vững chãi, vui nào bằng! Dù người “đầu têu” chuyện xây cầu – anh Nguyễn Nam Hà, chỉ vắn tắt một câu giản dị: “Tết này bà con đi hội xuân không phải “rửa chân” trước khi về nhà nữa”.

Anh Hà từng theo học trường Đại học Giao thông đường bộ Mátxcơva, tốt nghiệp chuyên ngành cầu và hầm giao thông. Về nước, anh làm giảng viên Đại học Giao thông vận tải Hà Nội, rồi chuyển sang công tác tại Viện Chiến lược và phát triển giao thông vận tải. Năm 2014, anh đã tham gia chương trình 186 cầu dân sinh cho các tỉnh miền núi. Chứng kiến đồng bào vùng cao đi lại khó khăn thế nào, nhất là trong mùa mưa lũ, anh Hà quyết định lập nhóm “Nhịp Cầu Hạnh Phúc”.

Thôn Lâm lọt thỏm giữa núi rừng Hà Giang

Không chỉ hoạt động như các nhóm thiện nguyện khác, quyên góp tiền xây cầu tại những bản xa, cách làm của “Nhịp Cầu Hạnh Phúc” là trực tiếp hướng dẫn người dân, “đào tạo họ trở thành thợ xây cầu”. Huy động bà con tham gia “tự làm cầu cho mình” dưới sự giám sát của cán bộ kỹ thuật, đó là phương thức đảm bảo chất lượng tốt nhất cho công trình. Do sử dụng lao động tại chỗ, đặc biệt là có sự tham gia lao động công ích của bà con dân bản, đồng thời tận dụng nguyên liệu trong vùng như cát sỏi, tre nứa, nên chi phí làm cầu được tiết kiệm tối đa.

Cầu Đồng Tâm là một ví dụ điển hình. Khu vực này nằm ở bờ Đông sông Lô, địa hình bị chia cắt phức tạp bởi hệ thống sông, suối và núi cao. Chỉ nội chuyện đưa được vật liệu và phương tiện máy móc chuyên dụng vào công trình, đã không hề đơn giản. Vậy mà, như chính cái tên đầy ý nghĩa của cây cầu, nhờ sự chung tay của mọi người, cầu Đồng Tâm đã hoàn thành với thời gian thi công nhanh kỷ lục, chỉ có hơn 2 tháng.

Lễ khánh thành cầu thực sự là ngày hội, không những với 1.300 người thuộc hơn 300 hộ dân ở 3 thôn được hưởng lợi trực tiếp từ cầu mới, mà cả bà con bản khác cũng tìm về chung vui. Đoàn thiện nguyện còn đang “rồng rắn” cuốc bộ trên con đường đất xuyên rừng vào thôn Lâm, đã thấy cả đoàn xe máy của đồng bào ra đón. Anh Bàn Văn Nguyễn, người Dao ở bản Huổi Đầu, cười tươi như được quà: “Bản mình ở mãi ngoài gần thị trấn cơ (Huổi Đầu nghĩa là con suối đầu tiên). Nhưng nghe trong này có cầu mới, mình vui lắm. Từ giờ đi thăm bạn không phải lội suối vì sợ gãy cầu tre rồi. Anh lên xe mình chở vào luôn”.

Nô nức mừng cầu mới

Còn ông Triệu Văn Thị – Bí thư chi bộ thôn Lâm – thì hỉ hả: “Có cầu chắc chắn, xe tải 10 tấn qua được, người Dao mình ở đây sẽ đỡ khổ đỡ nghèo. Thôn mình bà con trồng nhiều cam, cây rất sai quả, nhưng chỉ bán được 6.000 đồng/kg. Người buôn họ ép giá vì chưa có cầu thì vận chuyển vất vả lắm. Nay xe tải có thể lên tận vườn, cam được giá hơn nhiều rồi.”

Vui nhất có lẽ là thầy giáo Trần Văn Mười – Hiệu trưởng Trường tiểu học Cầu Nam, cùng các giáo viên của ngôi trường nằm ngay bờ suối. Từ nay, hàng trăm học sinh trong vùng đã hết cảnh nghỉ học mỗi lần nước lũ tràn về, cuốn phăng cầu tre mỏng mảnh như những năm trước.

Lũ quét lũ ống ở vùng cao thì khủng khiếp vô cùng, bởi thường bất chợt. Hòa chung dòng người vui hội mừng cầu mới, bà Bàn Thị Chụt, 70 tuổi, ở thôn Lâm, chép miệng ngậm ngùi: “Năm xưa ông nhà tôi ngã suối chết đuối ở đây đấy, giá hồi ấy có cầu to đẹp như bây giờ thì đâu đến nỗi… Nhưng giờ thấy con cháu qua suối được an toàn, tôi mừng lắm!”

Vườn cam trĩu quả ở thôn Lâm

Anh Giàng A Chiu – Phó chủ tịch UBND xã Đồng Tâm – cho biết thêm: trên địa bàn xã cũng từng xảy ra một số trường hợp khác nữa, bị đuối nước thương tâm trong mùa lũ, cũng bởi thiếu cầu. Vậy nên khi được các nhóm thiện nguyện chung tay xây cầu, bà con rất hăng hái góp công sức, hỗ trợ hết lòng cho đội thi công, có những người còn tình nguyện hiến đất vườn, mở đường dẫn lên cầu thuận lợi.

Và ngày khánh thành cầu, cả thôn Lâm nô nức góp gạo, góp lợn, góp rượu, cùng liên hoan mừng cầu mới. Các kỹ sư, những người thợ xây cầu và các nhóm thiện nguyện cùng quây quần với dân bản, tâm sự kỷ niệm một thời gian khó, nguy hiểm khi mùa lũ về, trẻ con không qua được suối, người bệnh không đến được viện, hàng hóa không thể xuống chợ phiên… và chung niềm vui “Đồng Tâm” mở lối thoát nghèo, vượt khó.

Già trẻ lớn bé đều diện trang phục truyền thống, những bộ quần áo đẹp nhất, vốn cất kỹ, chỉ dành cho dịp trọng đại. Các cháu thiếu nhi theo cô giáo múa hát tưng bừng. Đặc biệt, xã đã tổ chức lễ hội nhảy lửa, ngày xưa vốn thường diễn ra vào cuối năm, khi tiết trời đông giá vào kỳ lạnh lẽo khắc nghiệt nhất, nhưng vì nhiều lý do mà nét văn hóa đặc sắc này đã dần mai một. Ý nghĩa của lễ nhảy lửa là xua đuổi tà ma, bệnh tật, cầu thần linh phù hộ cho mùa màng bội thu, bản làng ấm no thịnh vượng.

Các thiếu nữ thôn Lâm diện trang phục ngày hội

Ông Triệu Văn Thị kể, lễ hội nhảy lửa (tiếng Pà Thẻn gọi là “pò dính”) thì người Dao và người Pà Thẻn đều có. Tuy nhiên, bao năm cơ cực mưu sinh, nên ở thôn Lâm tuy toàn người Dao đấy, lại thêm một số người Pà Thẻn về làm dâu, làm rể… mà cũng chưa được “thấy” nhảy lửa bao giờ. Đội nhảy lửa tối nay là người Pà Thẻn, do chính quyền mời ở xã bên về, để hội thêm vui, cũng là giúp bà con không quên phong tục cũ.

Đội gồm 5 người, trong đó có 1 thầy mo. Chuẩn bị cho lễ nhảy lửa, phải cúng trước lâu lắm. Bàn thờ với đầy đủ lễ vật gồm rượu, gạo, gà luộc, nhang đèn, cùng chiếc trống da trâu được trang trí vải màu… nghi ngút khói hương từ lúc bà con vác củi ra bãi đất rộng giữa đỉnh núi, chất thành đống cao. Thầy mo khấn bằng tiếng Pà Thẻn, từ lúc chuẩn bị châm lửa, khấn càng say sưa thành kính khi ngọn lửa bốc cao rừng rực, xua bạt bóng tối và sương giá đêm đông miền sơn cước. Khấn mãi đến khi củi cháy đượm hết, đổ sụp xuống thành đống than hồng rực, nghi ngút nóng.

Anh Giàng A Chiu bảo, phải khấn xin thần linh cho phép thì “chơi với lửa” mới không thấy đau, không hề bị bỏng, dù chân tay trần. Đến gần cuối bài khấn dài lê thê, dễ đến mấy tiếng đồng hồ liền, đội nhảy lửa mới ra ngồi trên ghế dài bên đống than. Lúc này, tiếng trống bắt đầu thúc giục, thầy mo vừa hóa vàng vừa tiếp tục khấn mỗi lúc một nhanh, chốc chốc lại cầm mớ vải gì đó vẩy vẩy về phía đống than.

Bà Bàn Thị Chụt (đứng) từng mất chồng vì nước lũ

Các “nghệ nhân nhảy lửa” Pà Thẻn ngồi kề vai trên ghế dài, mắt nhắm nghiền, người lắc lư, chân dậm xuống đất theo nhịp nhanh dần. Như một kiểu lên đồng. Hồi lâu, không đồng đều, người nào được “thần nhập” thì đứng dậy trước, có người bắt đầu nhảy lên bằng cả hai chân, vừa rung bần bật vừa vờn múa quanh đống than còn nổ tí tách, bắn tàn lửa ra xung quanh.

Hàng ngàn bà con tụ tập xem nhảy lửa, quây thành vòng tròn lớn. Những người có kinh nghiệm lớn tiếng hô mọi người lùi lại. Ai cũng háo hức muốn chen vào xem, nhưng rồi phải xô nhau lui bước, bởi một “nghệ nhân” chân trần đã nhảy vào giữa đống than nóng bỏng, đá tung mớ tàn lửa lên cao. Một người khác thì cúi xuống, dùng tay “xúc” cả mớ than cháy đỏ, hất vung vãi…

Rồi cả 4 “nghệ nhân” cùng nhảy múa trên lửa than, quay cuồng trong một vũ điệu kỳ lạ đến siêu thực, giữa tiếng trống thúc liên hồi và tiếng hò reo cuồng nhiệt của khán giả. Giữa núi rừng hoang lạnh sương giăng quyện khói, quang cảnh mờ ảo tựa thuở hồng hoang, khi thần và người không xa cách, như thể trời đất giao hòa trong ánh lửa hân hoan.

Cúng thần linh trước khi nhảy lửa

Họ đá than đỏ văng tứ tung. Tàn lửa bốc như pháo hoa. Bóng người nhảy lửa đen sậm giữa “sân khấu” đỏ rực, uyển chuyển nhịp nhàng, có những thoáng cảm giác lửa đuổi theo người, rồi người lại rượt bắt lửa… Vài trai bản nghịch ngợm thử nhảy vào chỗ than đã gần tàn, bắt chước múa may, nhưng phải “tháo” ra ngay, mà vẫn có mấy cậu bị xém giày, thủng áo…

Theo “già bản” Triệu Văn Thị, bất cứ người Pà Thẻn nào cũng có thể nhảy vào lửa, miễn là thầy mo đã cúng và được thần linh “nhập” thì họ không bị bỏng. Tuy nhiên, muốn thành “nghệ nhân nhảy lửa” thì phải theo học rất cẩn thận bài bản. Ngày xưa, thường vào khoảng tháng 10 Âm lịch, thầy mo mở lớp dạy cúng, xin phép thần linh được dạy cho những người muốn học. Các “học viên” là trai tráng khỏe mạnh, thông minh, có đạo đức, không làm điều xấu.

Mỗi người nhập học mang theo 1 con gà, 1 chai rượu, làm lễ dâng lên thần linh. Một “khóa học” thường kéo dài đến rằm tháng Giêng năm sau. Người học nhảy lửa “tốt nghiệp” sẽ được “cấp sắc” đàng hoàng, họ phải biết cúng mời thần thánh, cúng tổ tiên, cúng cho người ốm đau, cúng thổ công, cúng bảo vệ bản thân… “Thành tài” rồi, những người này không những có thể “chân trần đạp lửa”, mà thậm chí còn bốc được cả than hồng cho vào miệng nhai mà vẫn chẳng hề hấn gì. Ấy là người già truyền miệng thế, chứ “màn cao trào” này thì đám khách đang há miệng gai người, chưa được chứng kiến.

Lửa hồng sáng soi đêm núi

Ðêm khuya dần. Than hồng vương vãi khắp bãi cỏ giữa đỉnh núi. Tiếng trống mỗi lúc một gấp gáp, báo hiệu lễ hội đang dần về cuối. Đám trai bản hò reo kéo nhau vào nhảy rất đông, không còn lửa nữa, mà là nhảy trên mớ tro than vẫn đang ấm sực. 4 “nghệ nhân nhảy lửa” Pà Thèn đã rút ra vòng ngoài, đứng bên thầy mo đọc bài cúng tiễn thần linh về trời. Nhóm khách miền xuôi tò mò đến sát cạnh, săm soi xem chân tay họ liệu có vết bỏng nào, nhưng tuyệt nhiên không thấy.

Lửa tắt. Hội xong. Những lối mòn quanh núi lấp loáng ánh đèn pin của bà con gọi nhau về bản. Tứ phía râm ran tiếng nói cười hoan hỉ. Xuân mới đang về, cầu đẹp đã nối liền đôi bờ suối, thêm hội vui thế, chắc sẽ đón một năm may mắn…

Anh Nguyễn Nam Hà lại rủ rê: “Năm Tý, bọn mình định làm 4 cầu mới tặng bà con các vùng khó khăn khác, trong đó 2 cầu cũng ở Hà Giang. Nhiều nhóm thiện nguyện đã hứa sẽ góp sức cùng Nhịp Cầu Hạnh Phúc. Ra Tết lại đi với nhau nhé?!”

Nguyễn Việt