Cất vó trước bình minh

Vó bè đặt giữa lòng hồ

3h sáng, chị Nga chèo thuyền ra lồng bè đón tôi. Màn đêm đặc quánh trong cái lạnh cuối thu đầu đông vẫn bao trùm vùng lòng hồ và xóm Doi (xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình). Nửa mảnh trăng bàng bạc và những ngọn đèn điện phía xa trên những lồng bè nuôi cá và các bè vó nằm rải rác, nhấp nháy mờ ảo trong sương đùng đục.

Sương như khói dập dềnh trên sóng nước sông Đà, quyện cả vào đôi mái chèo nhịp nhàng theo guồng chân chị Nga. Đâu đó cũng vẳng về tiếng mái chèo khua nước, nhiều người dân xóm Doi cũng đã xuống thuyền đi cất vó. Họ bảo thời điểm này cá thường đi nhiều và “ăn đèn” dưới ánh điện soi giữa vó, nếu ra muộn hơn thì chỉ có nhặt vảy cá thôi.

Anh Đồng – chồng chị Nga – đã xuống thuyền từ hơn một giờ trước, sau khi đắp thêm cho tôi tấm chăn bông trong căn chòi thông thống gió lùa trên lồng bè. Đêm qua, lúc tôi đòi xuống bè nằm canh cá với anh để theo đi kéo vó sớm cho tiện, anh đã ái ngại: “Lạnh lắm chú ạ. Tôi đi từ 2h sáng cơ, ra cái vó xa nhất phải chèo mất khoảng 40 phút. Chú nên đi sau với nhà tôi ra mấy cái vó gần kia thôi, vó nào cũng giống nhau mà”.

Giờ tôi lại thấy tiếc vì đã nghe lời anh Đồng, bởi nếu đi cùng anh thì tôi đã được ngồi thuyền to hơn, chứ không phải run rẩy vì rét và cả vì… hãi, trên con thuyền gỗ nhỏ xíu với “tài xế” là một phụ nữ cân nặng chỉ bằng nửa mình, lầm lũi tiến mãi vào bóng tối đầy sương rờn rợn liêu trai. Nhưng rồi tôi cũng vững dạ khi thấy chị Nga mang theo áo phao và chèo thuyền với dáng vẻ “kinh nghiệm đầy mình”.

Chị Nga xởi lởi: “Nếu chú lên tầm mấy tháng trước thì cá nhiều hơn, có khi một đêm cất vó vài lần. Dịp này ít cá lắm, thỉnh thoảng cũng được con to – như nhà ông Thái bên kia hôm nọ kéo được con măng gần 30 kg, phải hai người khiêng mới móc được lên cân mà còn quệt cả đuôi xuống đất. Nhưng cá lớn thế ngày càng hiếm, đợt này đi cất vó chủ yếu lấy cá tép (cá thầu dầu) về làm thức ăn nuôi cá lồng thôi. Nếu không có mấy lồng cá với cái thuyền máy thỉnh thoảng anh Đồng làm dịch vụ chở khách viếng đền Thác Bờ hay tham quan mấy đảo trong lòng hồ thì chẳng biết lấy gì nuôi hai đứa con ăn học. Vùng này giờ nhiều nhà nuôi cá lồng rồi, cả lãnh đạo xã cũng nuôi – cái nhà bè bên kia là của ông Chủ tịch xã đấy”.

Cá bắt bằng vó vè chủ yếu là cá tép (cá thầu dầu)

Tôi sực nhớ đã có lần nghe ông Xa Văn Chính – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hiền Lương phát biểu tại một cuộc họp trên huyện Đà Bắc rằng Hiền Lương đã tận dụng lợi thế hơn 900 ha diện tích mặt hồ, phát triển được gần 200 lồng cá nuôi, tập trung ở xóm Doi và các xóm Mơ, Dưng, Ké. Bà con ở đây chủ yếu nuôi cá bỗng, rô phi, trắm cỏ, chày, trê lai…, một vài hộ đã thử nghiệm nuôi những giống cá có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá chiên, cá rầm xanh.

Ban đầu chưa có vốn, bà con làm lồng bằng tre, luồng tuy rẻ nhưng chỉ được 1 – 2 vụ đã phải làm lồng mới. Bây giờ tre luồng được kết hợp cùng khung sắt, lưới và phao nhựa, những chiếc lồng cá ở Hiền Lương đã vững chắc hơn, cho thấy nghề nuôi cá lồng đã góp phần cải thiện đời sống của nhiều hộ dân vùng lòng hồ. Mỗi hộ nuôi cá lồng thu nhập vài chục triệu đồng/năm, chưa phải là nhiều, song so với lối đánh bắt bấp bênh trên sông nước, nghề nuôi cá lồng thực sự là hướng phát triển kinh tế ổn định, bền vững.

Nếu cho ăn đầy đủ, phòng bệnh tốt, sau một năm cá trắm cỏ có thể đạt trọng lượng 4 – 5 kg/con, cá trê lai cũng khoảng 3 – 4 kg/con; với giá hiện khoảng 70.000 – 80.000 đồng/kg, mỗi con cá bán được vài trăm ngàn đồng. Còn “đặc sản” cá rầm xanh hiện có giá hơn 200.000 đồng/kg, cá chiên thì tới 400.000 đồng/kg, và quan trọng hơn là nhu cầu thị trường rất lớn, chẳng bao giờ có đủ hàng để bán.

Thương lái từ thành phố Hòa Bình lên tận nơi thu mua, họ rất thích vì toàn bộ là “cá sạch”. Trắm cỏ hoặc rô phi được nuôi bằng những thức ăn sẵn có tại nhà như ngô, sắn, rau, cỏ. Trê lai hay cá chiên thì cho ăn cá tép bắt từ vó bè…

Lồng bè nuôi cá trên lòng hồ ở xóm Doi

Chiều qua, lúc giúp chị Nga làm con cá trê 3 kg ướp riềng sả nướng đãi khách, anh Đồng đã cười: “Người ta bảo phải xây dựng thương hiệu “cá sạch”, không dùng cám công nghiệp để nuôi cá. Dân xóm Doi nghèo, làm gì có tiền mua cám công nghiệp mà lo, chú lên đây cứ thoải mái cá sạch nhé!”.

Cán bộ đi trước, làng nước theo sau, nhà Chủ tịch Chính có 4 lồng cá nuôi và 6 cái vó cất cá. Những chiếc nhà bè với lồng nuôi cá xuất hiện ngày càng nhiều trên lòng hồ, tài tình ở chỗ bè nổi cố định trên mặt nước mà không cần cái neo nào dù nước sâu đến gần trăm mét, thiết kế bè là bí quyết của dân lòng hồ. Một số bè nuôi cá kết hợp bắc vó cả hai đầu, vó hình vuông quây bằng thân luồng với tấm lưới và cái tời quay tay, mỗi ngày cũng được vài cân cá tép. Nhưng muốn bắt nhiều cá hơn thì vẫn phải đặt vó xa khu vực xóm Doi vốn đã bị đánh bắt quá nhiều.

… Đã đến chiếc vó đầu tiên, chị Nga cẩn thận trèo lên quay chiếc tời kẽo kẹt sợi dây chão to, ngoái lại dặn: “Chú đừng lên nhé, luồng ngâm nước trơn lắm. Lát nữa chú đẩy thuyền sang bên kia vó giúp tôi”.

Bốn góc lưới từ từ nhô lên khỏi mặt nước sau mỗi vòng tời, lưới càng cao kéo càng nặng, chị phải đu người lên, dùng cả chân đạp trợ lực cho tay kéo. Bóng đèn treo lơ lửng giữa lưới soi rõ bầy cá nhỏ hốt hoảng nhảy loạn xạ phơi những cái lườn màu bạc. Khi bốn góc lưới đã cao hơn mặt nước khoảng 1 mét, chị Nga dừng tay quay tời, tháo sợi dây khác được buộc vào đầu một cây luồng bên dưới đáy lưới, bắt đầu kéo ngang để dồn cá, vừa kéo vừa giũ lưới hất cá vào cái góc lưới mỗi lúc một thu hẹp dần.

Tôi khâm phục nhìn chị bước thoăn thoắt trên hai thân luồng trơn tuột mong manh dập dềnh mặt nước, trong khi tôi chỉ có việc ngồi thuyền cho vững cũng không xong, suýt thì lộn cổ xuống nước khi dò dẫm bám vào dây lưới để đẩy thuyền theo chị. Nhanh nhẹn với chiếc rổ, chị Nga xúc cá đổ vào lòng thuyền ngay dưới chân tôi. Đúng như chị “dự báo”, toàn là cá thầu dầu, chỉ có vài con ngạnh, con trê nhỏ trơn tuột cố gắng rúc xuống dưới đám cá trắng mình dẹt đang quẫy tứ tung.

Thu cá xong, bóng đêm mới tan dần

Chị Nga bảo: “Chỗ này được khoảng gần 3 cân chú ạ. Bây giờ tôi đưa chú sang bè của cậu Bắc, cũng sắp cất vó đấy, vó bên ấy to và đứng trên lồng cá chụp ảnh dễ hơn. Tôi phải sang cái vó nữa, chèo hơi lâu, lại phải kéo lưới bằng tay chứ không có tời, thuyền nhỏ xoay trở một mình dễ hơn”…

Lại kẽo kẹt mái chèo một lúc trên sông đêm gió buốt vắng lặng ảo mờ sương khói, phía trước đen đặc không thể nhìn được quá vài mét. Tôi hỏi chị Nga đi một mình thế không sợ sao? Chị cười: “Nhà tôi chài lưới từ năm 1987 khi thủy điện Hòa Bình bắt đầu tích nước lòng hồ đến giờ, chỉ sợ lúc bão thôi. Ngày thường lòng hồ phẳng lặng vậy nhưng những ngày mưa bão thì sóng nước dữ dội lắm. Nhiều khi bão lớn tốc hết cả liếp, lênh đênh đi kéo vó lúc ấy thì rất nguy hiểm, dù dân sông nước ai cũng bơi lặn như cá”.

Bè cá lồng nhà anh Bắc cũng đã sáng đèn. Đó là chiếc bè to khá chắc chắn với nhiều lồng cá xung quanh cái “chòi canh” ấm cúng quây bằng tôn hoa. “Ông chủ” buông điếu cày, vui vẻ kéo tôi lên bè. Chị Hà – vợ anh Bắc – còn khá trẻ, đang xếp tấm chăn bông sặc sỡ, rụt rè chào khách và hồng rực đôi má khi tôi trêu “đêm lạnh sương mờ thế này mà tình tang giữa sóng nước thì chẳng cần kéo cá cũng no(!)”.

Anh Bắc quê gốc Thanh Hóa, lên đây làm nghề xây dựng, bén duyên với cô gái Mường đằm thắm làm ở Trạm Y tế xã Hiền Lương. Mãi gần đây, kinh tế suy thoái, mấy chủ công trình nợ đầm đìa không còn tiền trả công thợ, anh quyết định chuyển sang nuôi cá lồng.

Anh Bắc nâng lưới để dồn cá vào góc

“Đầu tư cho khu nhà bè này cũng hết hơn trăm triệu đồng đấy, tôi vừa thả giống vụ đầu tiên, nuôi nhiều loại, có cả một lồng cá rầm xanh đặc sản. Còn cái vó kia, tổng cộng cả luồng với khung sắt, lưới tời cũng ngót 40 triệu đồng. Vó to rất nặng nên phải thiết kế bộ tời bằng dây cáp nối với máy quay nhiều bánh răng cưa bằng thép”, anh Bắc kể và cho biết hay bắt được cá thiểu, cá ngạnh, cá chép, cá mè, cá quả và tôm càng, tất nhiên là cả cá tép làm thức ăn cho cá lồng.

Hôm nào được nhiều, mang cá lên bán tại khu chợ ngay ven sông thường chỉ họp một lúc từ hơn 4h sáng. Mua bán nhanh chóng lắm vì toàn mối quen, giá cả ít dao động. Chỉ khoảng 7h là những con cá sông tươi rói đã được đưa về tới Tp. Hòa Bình, sang Việt Trì (Phú Thọ) và cả về Hà Nội.

Gọi là “máy quay” nhưng vẫn phải dùng sức người để kéo cáp tời cất vó. Tôi thử giúp chị Hà một lát mà tay quay ma-ni-ven cũng thấy rã rời, từ chỗ lạnh co ro đến lúc mồ hôi nhỏ giọt mới lôi được tấm lưới lên cao. Vó rộng, anh Bắc và chị Hà phải hợp lực kéo “cần gạt” để dồn bắt cá. Mẻ vó thứ hai trước bình minh mà tôi được “tham gia” cũng khoảng hơn 3 kg cá tép.

Anh Bắc lắc đầu: “Ngần này không đủ cho cá trong lồng ăn hôm nay, lát nữa xem trong xóm ai đánh được nhiều phải mua thêm. Tháng này cá ít thật!”. Tôi hỏi: “Hôm nào mình cũng kéo vó giờ này phải không anh?”. Anh Bắc gật: “Chài lưới quanh năm mà anh. Nhưng vào mùa cá đẻ thì UBND xã đã cấm đánh bắt bằng vó đèn, cũng phải thế chứ không thì chẳng mấy nỗi nữa sẽ chẳng còn cá đâu mà bắt”…

Dù là “tời máy”, việc cất vó vẫn khá nặng nhọc

Bóng đêm tan dần trên mặt nước là lúc những người đi cất vó lục tục chèo về xóm Doi, chị Nga cũng ghé thuyền lại đón tôi, trong khoang lấp loáng cá bạc. Anh Đồng đã kịp về trước nhen bếp củi trên bè nấu nồi mì thơm sực. Anh nhanh nhẹn lựa những con cá to nhất cặp vào mấy thanh tre, cời than cho đỏ rực rồi gác cá lên “xông khói”.

Tôi thắc mắc: “Không cần bỏ ruột bóc mang sao anh?”. Người đàn ông “sành ăn” cười chất phác: “Cá tươi phải nướng thế này mới ngon, mổ rồi thì mất hết nước ngọt trong thịt cá”.

Anh xúc mớ cá tép hất xuống lồng nuôi trê lai, lập tức mặt nước sôi sục tiếng cá tranh mồi. Trong bếp, mùi cá nướng ngào ngạt lan vào sương sớm đang loãng dần dưới ánh bình minh, mời mọc những cái bụng cồn cào sau một đêm cất vó…

Nguyễn Việt