Cánh bèo trôi cửa Phật

Đó là một ngôi chùa nằm ở ngoại thành Hà Nội. Trước đó, Ni Sư dẫn chị em tôi về giới thiệu với chính quyền và nhân dân. Ai cũng phấn khởi vì bao lâu chùa không có sư, nay có sư về, chùa sẽ ấm cúng, đông vui, không còn cảnh đìu hiu hương lạnh khói tàn nữa. Chính quyền và nhân dân muốn tổ chức một lễ thỉnh sư long trọng nhưng cả Ni sư và chúng tôi đều từ chối.

Chúng tôi lặng lẽ dọn đồ về chùa vào một ngày không báo trước. Chùa vắng tanh, lặng như tờ. Vào tới giữa sân chúng tôi thấy một người đàn ông ngồi một mình trên ghế đá dáng vẻ cô liêu và tiều tụy. Người đàn ông này rất khó đoán tuổi, không biết phải gọi bằng ông hay bằng chú. Ông nhìn chúng tôi mà không hề có bất cứ phản ứng gì. Chúng tôi cất tiếng: “Chào ông ạ!”. Ông khẽ gật đầu và tiếp tục ngồi yên.

Hôm sau dân làng biết chúng tôi đã về nên kéo đến thăm hỏi, cúng dường. Mọi người tự nhiên vào phòng của chúng tôi nhìn ngó, rồi vào nhà bếp kiểm tra xem thiếu cái gì thì tự động bảo nhau đi sắm sửa. Nào là chiếu mới, chăn màn mới, nào là xoong chảo mới, nồi cơm điện mới, chổi quét nhà, khăn mặt, sữa tắm, xà phòng giặt, ai có rau mang rau, ai có đậu mang đậu, gạo thì có tới mấy người cùng mang. Mọi người rất vui mừng phấn khởi có sư về.

Chúng tôi cảm động lắm, vì đây là lần đầu tiên trong đời được ra ở chùa riêng, lần đầu tiên trong đời được cảm nhận sự bao bọc, chăm lo trên mức chu đáo của những người Phật tử dành cho mình. Trong tu viện chúng tôi vẫn nhận được sự tôn trọng, quý kính của Phật tử, nhưng sự chăm chút, sắm sửa cho từng ly từng tí như mấy ngày nay thì đây là lần đầu tiên. Thật cảm động và tri ân biết bao!

Người đàn ông ngày nào cũng tới chùa, cũng lặng im ngồi trên ghế đá với cốc rượu bên cạnh. Thấy mọi người tíu tít chăm lo cho chúng tôi, thỉnh thoảng ông lại đưa mắt thờ ơ nhìn qua rồi lại thờ ơ nhìn vào khoảng không, chìm sâu vào trong thế giới riêng của mình. Ông chẳng bận tâm tới ai và cũng chẳng ai bận tâm tới ông.

Những ngày đầu tấp nập trôi qua, khi đồ đạc tối thiểu của chúng tôi đã được những người Phật tử thuần thành sắm sửa đầy đủ thì mọi người cũng ít tới chùa, thỉnh thoảng có người qua cúng dường nắm rau rồi về, trả lại cho chùa vẻ thanh vắng, bình yên vốn có. Rằm và mồng một mọi người mới đi lễ đông. Người đàn ông thì vẫn vậy, ngày nào cũng sang ngồi yên từ sáng tới trưa, rồi lại từ chiều tới tối. Ông không muốn đi đâu hết, cũng không muốn về căn nhà của ông trong làng.

Hàng ngày, sau buổi ngồi thiền tụng kinh sáng, chúng tôi quét ban thờ, quét chùa và quét sân. Mỗi khi làm việc ngang qua chỗ ông chúng tôi khẽ mỉm cười cúi đầu chào trong im lặng, người đàn ông chỉ khẽ gật đầu không phản ứng gì, thỉnh thoảng ông quan sát chúng tôi làm việc. Có lần tôi mang một cốc nước và ít trái cây ra mời ông, ông không biết phải xưng hô với sư như thế nào nên nói cụt ngủn: “Vâng, xin nhé!”.

Ngày nào ông cũng ngồi đó uống rượu, khi thì nhắm rượu với trái ớt, cắn một chút ớt, ngồi yên để cho vị cay dịu dần rồi tu một hớp rượu. Tôi chưa thấy ai ngồi uống rượu cả ngày với đồ nhắm là một trái ớt bao giờ. Có hôm ông nhấm nháp quả chanh, quả khế, quả ổi, hôm nào sang lắm thì có túi lạc… toàn những thứ rẻ mạt. Hình như ông không có tiền. Thấy vậy nên chúng tôi hay mang bánh và trái cây ra mời ông. Người đàn ông tóc tai bù xù không thèm cắt, áo quần xộc xệch không thèm chỉnh, mặt đờ đẫn không chút biểu cảm, lúc nào cũng sặc mùi rượu, thấy các sư cô tươi cười, lễ phép tới biếu đồ thì ông cũng bắt đầu tập mỉm cười, nhưng sao nụ cười lại méo mó và hồ nghi thế kia? Ông hồ nghi tấm chân tình của chúng tôi ư? Hay ông hồ nghi chính bản thân mình? Liệu có phải ông nghĩ ông không xứng đáng với tấm chân tình ấy?

Bữa đó chúng tôi dọn kho và làm cái dây phơi quần áo, việc này cần người cao và khỏe để khoan và bắt vít vào tường. Một sư cô tới nhờ ông giúp, đã nhiều lần nhận quà từ các sư cô, hôm nay được các sư cô nhờ, ông mừng rỡ lắm, được lời như cởi tấm lòng, hăng hái đi ngay. Trong lúc làm việc ông rất nhanh nhẹn, giọng nói sang sảng. Chúng tôi cảm ơn và khen ngợi việc ông làm, ông cười rất tươi. Ơ! Hình như đây không phải là một ông già, đây là một người đàn ông trung niên, ẩn sau mái tóc bù xù, áo quần nhầu bẩn là khuôn mặt vẫn còn trẻ trung. Chúng tôi không gọi bằng ông nữa mà chuyển sang gọi bằng chú. Để trả ơn, chúng tôi mời chú bữa cơm trưa, chú không dám ăn cùng các sư cô nên chúng tôi mang cơm ra bàn đá, đúng hơn là “bàn rượu của chú”. Chú đã ăn một bữa ngon lành, hết sạch, ăn xong còn biết tự đi rửa bát của mình.

Chẳng biết tóc tai đã tới thời kỳ cắt tỉa, hay vì đã góp đủ tiền cắt tóc mà vài hôm sau chú vào chùa với cái đầu được cắt ngắn, gọn gàng. Rõ ràng chú chỉ là một người đàn ông chừng trên dưới 50 tuổi. Từ đó, cứ có việc gì nặng là chúng tôi lại nhờ chú, chú vui lắm, hoạt bát hẳn lên, chú cười nhiều hơn, ăn cơm chùa nhiều hơn. Chú biết mua rau, đậu, dưa, cà cúng dường các sư cô. Chú quan niệm rằng ăn ở đâu cũng phải đóng góp, ăn ở chùa cũng vậy. Biết chú không có tiền, chúng tôi bảo chú không phải mua đồ nữa, nhưng khi nào có tiền chú vẫn mua. Rồi thấy các Phật tử tới chùa gọi sư cô xưng con, chú cũng gọi sư cô xưng con chứ không gọi cô xưng tôi như trước nữa.

Quen hơn, chú kể: Chú tên Huy, mới ra tù vài năm, chú bị đi tù 20 năm về tội giết người. Chú có vợ và một con gái đã lớn nhưng họ đã không liên hệ với chú từ lâu. Năm con gái còn nhỏ chú đi đào vàng ở xa. Vừa làm thuê cho chủ, vừa làm riêng chú để dành được một ít vàng, sợ mất nên chú đưa cho ông chủ cầm hộ. Khi muốn lấy lại để về quê thì ông chủ ăn quỵt không trả, ức quá chú đâm chết ông chủ và đi tù.

Chú kể: “Thằng chủ của con nó ác lắm, nó bảo anh em con có tiền vàng thì đưa nó giữ giúp. Bọn con đi làm thuê, ăn ở tuềnh toàng, giữ vàng sợ mất nên đưa cho nó, đến khi xin lại thì nó không trả, đã thế nó còn thuê người đánh ai đòi nó tiền. Con kiếm được nhiều vàng lắm mà giờ không có đồng nào trong người. Con uất không chịu được, con mới hẹn gặp riêng nó và mang theo dao, nếu nó trả thì thôi, nó mà không trả con sẽ đâm chết nó. Nó to khỏe hơn con, khi con đòi nó xông vào đánh con trước nên con đâm nó chết và trốn đi. Con chạy sâu vào rừng, ở nhờ nhà người dân tộc mười mấy ngày sau đó ra đầu thú và bị đi tù hai mươi năm.”

Trong lúc đi tù, vợ chú đệ đơn ly dị và xây dựng cuộc sống với người chồng khác. Chẳng thể trách cô được, không phải ai cũng có một tình yêu lớn để chờ đợi một tù nhân mang tội giết người vì tranh chấp tiền bạc ngần ấy năm trời. Khi trở về, bố mẹ đã qua đời, vợ con không còn nữa, anh em, họ hàng lạnh nhạt, xóm giềng kỳ thị, đề phòng. Chú đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, lý lịch như thế, ai người ta thuê. Không tìm được công ăn việc làm, trở thành một người thừa thãi, vô dụng, chú rơi vào khủng hoảng. Giá mà vẫn được ở trong tù thì sướng biết mấy, có cơm ăn, có việc làm, người xung quanh ai cũng giống mình, giờ chỉ thui thủi một mình, bữa đói bữa no. Đời quá buồn! Chả thiết gì nữa, mượn rượu mà quên đời thôi.

Biết chuyện, chúng tôi thương lắm, đối xử với chú đặc biệt hơn. Chúng tôi đã hiểu vì sao chú cứ ở lỳ trong chùa, không muốn về nhà và cũng không chơi với ai trong làng.
Chúng tôi mời chú cùng lên tụng kinh buổi chiều, chú tròn mắt ngạc nhiên:
– Con cũng được lên tụng kinh ạ?
– Vâng ạ!
– Chưa bao giờ con dám vào trong chùa, toàn ngồi ngoài sân thôi.
– Chú vào chùa đi, ai cũng vào được mà. Phật từ bi lắm.

Chú líu ríu đi theo chúng tôi và ngồi dúm dó ở một góc mà mùi rượu vẫn sặc lên. Chú không tụng kinh được, chỉ nghe thôi nhưng rất chăm chú và thành kính chắp tay. Chú thích nghe kinh và lạy Phật. Một bữa không biết chú mua được ở đâu bộ quần áo đi chùa mầu nâu. Chú xúng xính trong bộ quần áo mới, mặt đầy hân hoan, chú rất vui sướng khi các sư cô tấm tắc khen: “Ôi! chú có bộ quần áo đi chùa đẹp quá!” Chú rất biết thân biết phận, bốn rưỡi chiều tụng kinh là đầu giờ chiều không uống rượu, chiều nào thèm quá lỡ uống rượu là không lên chùa.

Mấy bữa nay trong chùa xuất hiện thêm một cậu nghiện ma túy, dạo này cậu rất hay vào chùa ngồi chơi, trò chuyện với chú Huy. Cậu mới ngoài hai mươi tuổi, cũng tới hỏi chuyện các sư cô nhưng ánh mắt và lời nói của cậu không trung thực, cậu khoác lác và nói dối. Cậu là người trong làng, vì nghiện ma túy nên túng quá, ăn trộm hết trong nhà lại ra ngoài ngõ, sang cả chùa làng bên cạnh lấy đồ thờ bằng đồng đem bán. Công an tìm thấy hiện vật ở hàng đồ cũ, lần ra manh mối và bắt lên đồn, khổ thân bố mẹ, lại phải lên xin bảo lãnh về. Cậu thanh niên gọi chú Huy bằng anh. Hai anh em nhà họ có vẻ tâm đầu ý hợp lắm, thủ thỉ suốt ngày. Cùng “giai cấp” nên họ có tiếng nói chung. Có bạn mới, chú Huy ít lên chùa tụng kinh.

Các sư cô rất muốn giúp cậu hướng thiện nhưng bản tính của cậu lắt léo, ít thiện tâm, hơn nữa cậu còn quá trẻ, cậu vẫn có tình thương và sự quan tâm của cha mẹ, chưa phải chịu quá nhiều đau khổ và còn đầy đủ sự hiếu thắng, ngạo nghễ của tuổi trẻ nên không cần tới thiện ý của các sư cô. Cậu muốn các sư cô nể phục chứ không thích các sư cô nhắc nhở, uấn nắn. Khác với chú Huy, chú vốn thật thà, chất phác, chú đã ở dưới dáy của khốn khổ, cô quạnh, đang sống trong đói nghèo và sự ghẻ lạnh của xã hội nên chỉ cần một nụ cười thân thiện, một cốc nước trong, vài chiếc bánh quy, chân tình đem tới cũng có thể cảm hóa được chú rồi.

Chùa có hai lối đi. Một ở phía mặt đường to và rộng, chỗ này dự định xây cổng Tam quan mà chưa xây. Một lối cổng sau dẫn vào trong làng, mọi người thường tới chùa bằng lối này. Phật tử thường nhắc chúng tôi: “Tối đến, đi ngủ các sư cô nhớ khóa cổng chặt vào nhé!” Khóa chặt để làm gì khi mà phía trước thông thống, không có cổng?
Dạo này thỉnh thoảng buổi tối hay có xe máy từ đường cái phóng vào trong chùa, lượn một vòng rồi đi ra. Có hôm hơn chín giờ tối chúng tôi thấy một người đàn ông phóng xe vào chùa gần phía phòng chúng tôi ngó nghiêng.

Chúng tôi mở cửa và hỏi:
– Có việc gì thế chú?
Người đàn ông từ tốn xuống xe có vẻ muốn nói chuyện.
– Có việc gì không ạ? Mời chú vào phòng khách.
– Tôi là công an, tôi đi tuần thôi.
– Thế ạ? Quý quá! Chú ơi, thỉnh thoảng chú nhớ vào chùa đi tuần một vòng chú nhé.
– Vâng! Các sư cô ở đây mấy người?
– Dạ năm người ạ. Cũng có lúc có người đi vắng, nhưng ít nhất là hai người ở chùa.
– Vậy cũng được, nhưng các sư cô cẩn thận nhé. Tối đi ngủ đóng cửa cho chặt, dạo này nhiều nghiện lắm. Phải đề phòng mọi thứ… Sư cô trụ trì ở đây à?
– Dạ không ạ, các sư cô chỉ về đây trông chùa cho Ni sư thôi ạ.
– Các sư cô về đây trụ trì đi, chính quyền và dân ở đây quý sư lắm.
– Vâng, nhưng mà … việc đó các sư cô không tự quyết định được ạ.
– Các sư cô cứ ở đây đi, có gì chúng tôi giúp.
– Cảm ơn chú!
– Thôi, tôi đi đây, chào các sư cô nhé!
– Vâng ạ, chào chú!

Làm cái giấy bổ nhiệm trụ trì phức tạp lắm chứ có đơn giản như người đời nghĩ đâu? Cũng vì cái giấy đó mà một thời gian ngắn sau chúng tôi rời khỏi ngôi chùa này để vào Học viện Phật giáo, nối lại sự nghiệp học hành của mình.
Có lẽ được bao bọc trong gia đình, lại có nhiều năm tháng sống bình yên trong tu viện, khi ra ngoài chúng tôi hay được ưu tiên, được đối xử đặc biệt và nhận được nhiều sự quý mến của người Phật tử nên trong tâm chúng tôi không có sự nghi ngờ, đề phòng hay sợ hãi gì với thế giới bên ngoài cả. Mặc dù được chú công an tới tận nơi nhắc nhở nhưng chúng tôi nào để tâm.

Hôm ấy, nửa đêm đang ngủ ngon, sư cô Hồng Ân gọi tôi dậy, nét mặt rất căng thẳng:
– Sư cô, chú Huy và Thanh (tên cậu thanh niên) đang tiêm chích ma túy trong vườn kìa. Con quát, tại sao hai người lại vào chùa dùng ma túy? Thanh nó không nói năng gì, chú Huy bảo “Xin lỗi sư cô nhé, nốt lần này thôi.” Rồi chú ấy quay sang mắng thằng Thanh: “Tao đã bảo mày rồi, từ nay không được vào chùa nữa. Có gì về nhà tao.”

Tôi giật mình, cảm thấy sự an toàn của mấy chị em đang bị xâm phạm. Ngôi chùa này hàng trăm năm nay không có sư, Ni sư nhận kiêm nhiệm trụ trì nhưng không ở đây. Chùa xây theo lối cổ. Tam Bảo rất nhỏ. Sau Tam Bảo là căn nhà ba gian, gian giữa thờ Mẫu, hai trái bên cạnh là phòng nghỉ. Vì không có người ở, lại xây lâu rồi nên trong phòng không có vệ sinh khép kín. Nhà vệ sinh cạnh nhà bếp, tít ngoài vườn, khá xa phòng ngủ, ở đó mà có gọi thì trong phòng cũng không nghe được. Thỉnh thoảng, ban ngày chúng tôi vẫn nhìn thấy kim tiêm, nhưng chẳng biết sợ là gì, thấy thì quét dọn đi thôi. Hôm nay mới biết sợ.

Trước khi xuất gia sư cô Hồng Ân học cùng lúc hai trường Đại Học: Bách Khoa và Xã Hội Nhân Văn. Mặc dù học cùng lúc hai trường Đại Học có tiếng nhưng sư cô vẫn tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa loại giỏi. Khi tôi ngồi viết những dòng này thì sư cô đang học tiếp Tiến sĩ Phật học. Tôi rất nể chỉ số IQ và lòng can đảm của sư cô, nhưng tôi không hiểu nổi tại sao trong trường hợp này sư cô lại hành xử thơ ngây và dại dột đến thế? Lẽ ra thấy vậy thì im lặng nhanh chân đi vào nhà đóng chặt cửa lại rồi báo cho các chị em biết, đằng này, người thì đã bé tí bé tẹo, giữa đêm khuya vắng lại đứng đó mà dõng dạc quát hai ông nghiện đang trích ma túy. May mà có Tam Bảo gia hộ, phúc đức tổ tiên còn nhiều chứ nếu không thì chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ngộ nhỡ trong khoảnh khắc nhân tính của hai người kia bị che lấp thì làm thế nào?

Tôi muốn mắng sư cô và nói ra điều đáng sợ mà mình vừa tưởng tượng nhưng nghĩ sư cô có đủ hiểu biết và trưởng thành, hơn nữa sư cô cũng đang sợ, nên thôi. Trách móc và làm cho nhau sợ hãi thêm để làm gì? Tôi chỉ nhắc ngắn gọn:
– Từ nay buổi tối đi ra ngoài phải có hai chị em đi cùng không thì nguy hiểm lắm, thôi đi ngủ đi.

Sư cô về giường nằm, tôi vừa sợ vừa tức, tôi sợ họ làm hại em tôi. Vì lo nên tôi đâm ra tức, rủa thầm sư em: “Người đâu mà ngu thế không biết”. Chết! Chết! Mình nói bậy rồi, nói người khác ngu là mình bị quả báo ngu đần đấy. Sám hối! sám hối! “Người đâu mà dại thế không biết” tôi chưa chịu im, thầm rủa lại rồi mới trùm chăn ngủ tiếp.

Chúng tôi không có ý định ở đây lâu dài, chỉ là ở tạm một vài tháng nên không có ý định thay đổi bất cứ điều gì từ cảnh quan cho tới con người. Chú Huy và Thanh ban ngày vẫn vào chùa ngồi chơi ngoài sân. Chùa là của thập phương, cổng luôn mở, ai vào chẳng được, có phải nhà riêng của mình đâu? Chú Huy chúng tôi không ngại, nhưng rất ngại cậu Thanh ăn trộm. Bao năm chùa không có sư thì chả sao, nay có tới năm sư cô về trông nom lại để mất cắp thì thật là… xấu hổ.

Để tôi kể cho mà nghe, có một thầy trụ trì ở ngôi chùa nọ, đang đứng trên lan can tầng hai thì thấy một thanh niên vào chùa. Người thanh niên tươi cười, cung kính chắp tay xá chào thầy. Thầy gật đầu và chắp tay chào lại. Một lúc sau, thầy vẫn trên tầng 2 thì thấy thanh niên bình thản đi ra ngoài, cái bụng to bất thường. Sinh nghi, thầy chạy xuống chánh điện kiểm tra thì thấy … mất cái chuông. Có chùa, ban đêm chẳng biết họ xịt thuốc mê thế nào mà họ vào lấy hết đồ đồng trong chùa rồi xuống bếp vơ hết nồi niêu, xoong chảo, mâm nhôm. Khổ, giáp tết mà trong chùa cái nồi cái mâm cũng không có mà dùng.

Chúng tôi thấy lo nhưng chỉ lo được vài hôm, bản chất vô tư và hồn nhiên khiến chúng tôi nhanh chóng quên đi chuyện đó. Chú Huy và Thanh vẫn lễ độ và tôn trọng các sư cô. Chúng tôi bảo nhau, nếu họ có chủ ý ăn trộm thì mình cũng không canh được, với lại… ba bốn hôm rồi mà chưa mất gì nghĩa là … không sao đâu, cứ nghi ngờ và đề phòng thế này mệt quá!

Bữa đó chùa Ni sư trên Hà Nội có giỗ Tổ, các sư cô lên phụ việc. Buổi chiều các sư cô vẫn ở trên đó, mình tôi về chùa đón sư cô Phúc Nghiêm từ Đồng Nai ra. Sư cô ra Bắc xem các sư em ăn ở thế nào. Tôi về nấu cơm chiều đợi sư cô. Đợi mãi chưa tới, tôi ra cổng đứng ngóng thì thấy chú Huy đang trèo cây hái mít, Thanh đứng dưới đỡ.

Tôi hơi khó chịu vì sự tùy tiện này nên tới gần và hỏi:
– Hai người đang làm gì đấy?
– Con hái mít – hai người thản nhiên trả lời.
– Lần sau hái mọi người phải hỏi các sư cô chứ, không nên tự ý hái như vậy.
– Con hái cho chùa mà!
– Hái cho chùa cũng phải hỏi, khi nào các sư cô đồng ý mới hái chứ?

Thanh im lặng. Chú Huy trèo xuống phân bua cho bằng được là thấy mít chín nên hái cho chùa, không phải chú hái trộm. Chú đang say, mắt đỏ ngầu, lời nói ríu vào với nhau. Chú giải thích một hồi chả đâu vào với đâu rồi bỗng nhiên nổi cáu quát nạt:
– Cô tưởng tôi ăn cắp chứ gì? Tôi không thèm ăn cắp đâu, công an xã và cán bộ thôn đều là người nhà của tôi đấy.

Sao tự dựng dưng chú lại to tiếng với tôi? Có ai bảo chú ăn cắp đâu? Tự chú nghĩ ra rồi nổi tự ái đấy chứ? Mà chú nói chẳng logic gì cả, sao lại lôi công an vào đây? Ý chú là chú có quen với công an, nếu tôi làm phật ý chú thì chú báo công an chứ gì? Tưởng tôi sợ à? Hay chú nghĩ công an là người có uy tín, người nhà chú là công an và cán bộ thôn nghĩa là chú cũng có uy tín? Tôi cố giải mã câu nói của chú nhưng … Chịu! Chả hiểu! “Nói với người say như vay không trả” mà.

Thấy tôi im lặng không nói gì, chú càng nổi khùng hơn, sấn sổ bước tới chỉ mặt tôi xỉa xói:
– Tôi nói cho cô biết, cô chỉ đáng tuổi con của tôi thôi, đừng có mà láo!

Tôi hoảng quá, vội lùi lại rồi nhanh chân bước sang nhà cô Phật tử cạnh chùa gọi to:
– Cô Tùng ơi, cô Tùng, cô Tùng ơi!
– Gì thế sư cô? Sư cô vào đây.
Người phụ nữ mở cổng, tôi bước vội vào sân, cảm giác như có ai đuổi theo sau lưng, phải bước vào tận trong nhà mới thấy yên tâm:
– Sao thế sư cô? Có chuyện gì thế?
– Chú Huy say rượu, chú hái mít, sư cô bảo chú phải hỏi các sư cô chứ không nên tự ý hái, thế là chú nổi nóng lên.
– Không sợ đâu, để con dắt sư cô về, con nói nó.
– Không! Sư cô không về đâu, sợ lắm ạ!
– Thế sư cô cứ ngồi đây để con sang chùa xem thế nào, sư cô uống nước đi.

Cô qua chùa, tôi ngồi suy nghĩ, sao tự nhiên chú lại nổi khùng lên như vậy? Tôi đã làm gì nên tội? Tôi nói nhỏ nhẹ mà? Có phải vì chú không có tính ăn cắp mà nhiều người trong làng hay nghi chú ăn cắp, nhất là khi thấy chú kết giao với Thanh nên chú trở nên nhạy cảm về vấn đề này? Tôi biết chú không có tính đó, nếu có thì bao năm qua đồ trong chùa đã không còn gì, đằng này mọi thứ vẫn y nguyên. Có lẽ vì bản tính của chú không trộm cắp nên chú rất uất ức khi bị nghi oan mà không có cách nào để thanh minh, không có ai để chú giãi bày. Chú lại càng không chịu đựng nổi khi tưởng rằng các sư cô – những người mà chú rất tin cậy, quý kính cũng nghĩ chú ăn trộm nên cơn nổi giận mới bùng phát dữ dội như vậy. Thật đáng thương quá đi! Mà cũng thật hãi quá đi! Tôi vốn quen với sự nhã nhặn, dịu dàng, thế mà vừa rồi… khiếp thật! Tôi không nghĩ nữa, chú tâm theo dõi hơi thở cho tâm bình an.

Cô Tùng về, cô nói hai người đã đi rồi tôi có thể về chùa, cô sang cùng và ở lại với tôi. Được một lúc thì sư cô Phúc Nghiêm tới, cô Tùng xin phép về lại nhà. Chúng tôi cùng nhau ăn chiều rồi về phòng nghỉ ngơi. Dĩ nhiên là tôi không kể chuyện này với sư cô Phúc Nghiêm, sợ sư cô lo lắng cho các sư em. Hai chị em đang trò chuyện thì chú Huy đập cửa gọi “sư cô ơi, sư cô!” Tôi thấy bất an. Sư cô Phúc Nghiêm nói:
– Ai gọi kìa em, ra xem đi.
– Chú này bị say rượu ạ. Kệ chú ấy đi sư cô.
Chú Huy đập cửa rầm rầm gọi lớn, gọi mãi không thôi, phát suốt ruột:
– Sư cô ơi, sư cô!

Sư cô Phúc Nghiêm ra mở cửa, tôi đi theo thì thấy chú Huy cầm hai túi nước mía đưa cho tôi nói “sư cô uống đi”. Tôi từ chối (vì vẫn còn sợ). Chú nài nỉ “sư cô ơi, sư cô uống đi, con mua cúng dường các sư cô mà”. Lúc này chú đã tỉnh hẳn rượu, đã nhận ra hành động và lời nói vừa qua của mình là sai nên mua nước mía để chuộc tội. Vậy là chú vẫn còn nhiều thiện tâm và sự tỉnh giác, biết tự nhận ra lỗi lầm, biết ăn năn sám hối. Giờ chỉ có các sư cô là vẫn tôn trọng và đối xử với chú bình đẳng. Nếu các sư cô cũng sợ hãi, xa lánh và kỳ thị chú thì chú biết bám víu vào đâu? Chú hiểu điều đó nên rất trân trọng và không muốn đánh mất. Chú nài nỉ rất thiết tha, thành khẩn, nhưng tôi kiên quyết không nhận, như một sự cảnh cáo. Thấy chú năn nỉ tội nghiệp quá, sư cô Phúc Nghiêm đỡ lấy hai túi nước mía và nói: “Cảm ơn chú! Chú về nghỉ đi”.

Về phòng, sư cô hỏi tôi:
– Sao chú cúng dường mà em không nhận?
– Dạ, vì tối rồi uống nước mía lạnh ạ.

Sư cô nhìn tôi. Một người quá vụng về trong việc nói dối đang đối diện với một người tu thiền lâu năm quá tinh tế để phân biệt thật giả. Ánh mắt của sư cô khiến tôi đành phải giải thích sơ sơ rằng nẫy chú say rượu vào chùa nói linh tình, giờ tỉnh rượu, nhận ra lỗi nên mua nước mía để sám hối.

Hôm sau Phật tử vào chùa hỏi:
– Sư cô, hôm qua thằng Huy và thằng Thanh vào chùa quấy phá các sư cô à? Để chúng con nói với chính quyền đuổi hai thằng đó ra và cấm từ nay không cho phép vào chùa nữa.
– Dạ, không ạ! Không phải thế đâu cô.
– Hôm qua chúng nó say rượu chúng nó nói gì với sư cô?
– Không có gì đâu ạ, nói bình thường mà. Cứ để cho họ vào chùa gieo duyên lành với Tam Bảo đi cô, có gì đâu mà báo chính quyền.
– Nếu có bất cứ chuyện gì các sư cô cứ nói với chúng con, đừng ngại, để chúng con xử lý.
– Vâng ạ, cảm ơn cô.

Chùa bao năm không có sư, hoang lạnh, bụi bẩn, nay có sư về, dù các sư chưa làm được việc thiện nào đáng kể nhưng chỉ nội việc có mặt ở đây với dân làng và chăm lo cho ngôi Tam Bảo sạch sẽ tinh tươm, đèn hương ấm cúng thôi cũng đủ khiến cho nhân dân và chính quyền vui rồi. Mọi người sợ sư bỏ đi nên đặc biệt quan tâm và bảo vệ. Thật ấm lòng biết bao!

Lâu rồi không thấy Thanh qua chùa, các Phật tử bảo Thanh đi cai nghiện. Có lẽ như vậy sẽ tốt hơn cho em và người xung quanh, chỉ có điều em đã từng cai rồi nhưng cứ ra khỏi trại là lại tái nghiện. Hết ra lại vào trong sự đau khổ và lo lắng của người thân. Ma túy có mãnh lực rất lớn, nó như sợi dây trói bền chắc siết chặt thể xác và linh hồn người nghiện, nếu lỡ sa chân vào thì thật khó để vùng vẫy mà thoát ra. Phải là người có tâm hướng thiện mạnh mẽ, lý tưởng sống mãnh liệt và một bản lĩnh ghê gớm mới có thể vượt thoát được ma lực đó để trở lại đời sống bình thường mà không tái nghiện. Những tiêu chuẩn kia thì Thanh lại thiếu, tội nghiệp em lắm! Ai mà chẳng muốn mình là người có ích? Ai mà không đau lòng khi thấy người thân khổ vì mình?

Tôi nghe chú công an kể, có một cậu thanh niên là con ngoài giá thú của một bà mẹ câm. Hai mẹ con sống dưới gầm cầu, mẹ nhặt rác nuôi con. Lớn lên đứa con nghiện ma túy, đi ăn cắp bị công an bắt. Cậu khóc lóc và chỉ van xin đúng một điều : “Các chú đừng nói với mẹ cháu, mẹ cháu mà biết mẹ cháu chết mất”.

Mẹ Teresa người sáng lập ra Dòng Thừa Sai Bác Ái, có các trung tâm từ thiện tại 133 quốc gia với các trường học, cơ sở chữa bệnh di động, bếp ăn từ thiện, trại trẻ mồ côi, nhà tế bần và nhà tình thương cho người mắc bệnh hiểm nghèo, nhà nguyện dành cho người vô gia cư hấp hối, .v.v… Hôm đó, tại Trung tâm chăm sóc cho các bệnh nhân HIV giai đoạn cuối, có một người thanh niên vô gia cư. Anh ta nghiện ma túy rồi nhiễm HIV, đang hấp hối nhưng cứ lay lắt mãi không sao chết được. Các nữ tu thưa với Mẹ Teresa, Mẹ đến bên ghé sát vào tai anh và hỏi: “Con trai, con còn điều gì muốn nói với ta không, ta sẽ giúp con?” Người thanh niên thều thào: “Con muốn gặp bố con”. Anh nói tên bố và địa chỉ nhà mình. Chẳng bao lâu người cha tới và gọi : “Con ơi! Bố đây!” Anh mở mắt ra cố sức nói: “Bố ơi! Con xin lỗi bố! Hãy tha thứ cho con!” . Người cha ôm lấy con trai khóc: “Bố tha thứ cho con. Bố yêu con lắm!” Sau khi xin lỗi bố và được tha thứ, người thanh niên thanh thản trút hơi thở cuối cùng…

Có duyên được vào Trại cai nghiện giảng pháp cho học viên cai nghiện, tôi được tiếp xúc với đủ loại thành phần, trong đó có cả những người là giảng viên Đại học, có người là bác sĩ, doanh nhân,.v.v… Duyên cớ gì mà các bạn lạc bước vào chốn này? Tôi chưa có cơ hội trực tiếp trò chuyện để biết điều ấy.

Qua cán bộ quản lý, tôi nghe kể có anh làm nghề lái xe chạy đường dài, chuyên chạy về đêm. Ông chủ sợ anh ngủ gật, lái xe gây tai nạn nên đưa thuốc lá có bỏ thuốc phiện cho anh hút để tỉnh táo. Việc này anh không hề biết, cho đến khi nghiện ma túy lúc nào không hay. Từ đó cuộc sống ngày càng bê bối, vợ chồng cãi vã rồi ly dị. Một sáng thức dậy, vợ con không còn bên cạnh, trống trải, cô đơn, lại càng gắn kết đời mình hơn với ma túy.

Chỉ là lầm lỡ, chỉ là vấp ngã, cũng có khi là bị dụ dỗ lừa gạt, tất nhiên cũng có nhiều người do ham chơi, biếng học, hư đốn, ngỗ nghịch, phước kém nên đời sống mới rơi xuống thấp. Nhưng họ đáng thương nhiều hơn đáng trách, họ cần được hiểu, được giúp đỡ. Giúp những trường hợp như vậy khó khăn vô cùng, cần phải có tình thương, sự hiểu biết, và lòng kiên nhẫn lớn, mà cho dù có đủ ba đức tính quý hiếm ấy thì cũng chỉ có thể giúp được những người hữu duyên.

Các khóa tu mùa hè trong chùa là một môi trường rất tốt cho thanh thiếu niên. Nếu từ nhỏ các em được trang bị một nền tảng đạo đức căn bản, một sự hiểu biết dù là đơn sơ về nhân quả, nếu các em được trải nghiệm đời sống tâm linh cao quý thì các em sẽ ít vướng vào các tệ nạn xã hội. Và nếu có lỡ vướng thì các em cũng sẽ có nhiều cơ hội để thoát ra.

Chú Huy mất bạn, lại thui thủi một mình ngồi uống rượu. Không còn bạn, chú lại lên chùa tụng kinh với các sư cô. Hôm nay mọi người dọn vườn, tôi được phân công lên tụng kinh buổi chiều. Đang tụng thì chú Huy bước vào, ngồi xuống bên cạnh. Tôi thấy khó chịu! Chùa quá nhỏ, chú lại là nam giới. Mọi ngày đông sư cô tụng kinh thì chú ngồi cùng được, còn hôm nay chỉ có một sư cô lẽ ra chú không nên bước vào. Bình thường, nếu có một mình mà không tụng kinh, thấy chú vào tôi sẽ đi ra, nhưng đang tụng, tôi không đứng dậy được còn chú thì biết gì về phép tắc của người xuất gia?

Chú ngồi ngay sau lưng, ban đầu tôi thấy bực rồi dần chuyển sang sợ. Người khác thì chắc không sợ đến thế, nhưng người đàn ông này từng đi tù hai mươi năm về tội giết người, nghiện rượu và sử dụng ma túy, đã có lần nổi khùng làm cho tôi khiếp vía. Tiếng mõ của tôi bắt đầu loạn lên. Mấy lần tôi định buông chuông mõ đứng dậy bỏ ra ngoài nhưng lại cố nán thêm chút nữa. Bỗng tôi nghe thấy tiếng xụt xịt, rồi tiếng khóc thút thít. Sao chú lại khóc nhỉ? Bất ngờ chú vùng đứng dậy, tôi giật mình. Chú tiến về phía tôi, rồi vượt qua mặt tôi, đến trước ban Tam Bảo, chú cho tay lục lọi tất cả các túi áo, túi quần, có bao nhiêu tiền chẵn, tiền lẻ là móc hết ra đặt lên ban thờ rồi về chỗ ngồi, khóc tiếp.

Thấy chú khóc, tôi yên tâm thong dong tụng hết thời kinh. Tụng xong tôi quay lại nhìn chú, chú đưa tay quệt nước mắt nước mũi đang tèm lem trên mặt. Tôi ngồi im, nhìn xuống đất để chú khóc cho tự nhiên. Một lúc sau, chú bớt thổn thức, tôi ngước lên hỏi:
– Vì sao chú khóc?
– Hu hu …con không biết tại sao ..hu hu.. cứ nghe kinh là con lại khóc.

Tôi im lặng suy nghĩ.
– Tại sao thế ạ? Tại sao cứ vào chùa là con lại khóc?
– Tại vì trong chú có nhiều hạt giống thiện, khi tiếp xúc với cái lành nơi cửa Phật hạt giống thiện trong chú được đánh thức. Giống như một người xa nhà, xa người thân quá lâu, khi được trở về nhà gặp lại người thân họ mừng quá nên khóc đó. Chú có thấy khi khóc lòng chú rất nhẹ nhàng, thanh thản không?
– Có, con có thấy!
– Mỗi khi nghe kinh mà xúc động muốn khóc chứng tỏ là tâm hướng thiện của chú rất mạnh. Cảm giác ấy cũng giống như khi người ta xúc động bật khóc vì được đọc hay nghe một câu chuyện cảm động đầy tính nhân văn. Phải là người có trái tim trong sáng, nhân hậu mới có thể xúc động được. Chú nghe kinh mà xúc động muốn khóc nghĩa là chú có duyên lành sâu dày với Tam Bảo đấy. Tốt lắm!
– Hức hức…Vâng ạ!
– Những giọt nước mắt này giống như nước Cam Lộ của Bồ Tát Quan Thế Âm, có khả năng tẩy rửa những ô nhiễm trong thân và trong tâm. Vậy nên khi khóc xong chú thấy lòng bình an và thanh tịnh. Những giọt nước mắt này rất quý giá. Chú cứ khóc đi.
– Vâng ạ.

– Chú Quy y Tam Bảo đi.
– Quy y Tam Bảo là gì ạ?
– Quy y Tam Bảo nghĩa là trở về nương tựa nơi Phật, nơi Pháp, nơi Tăng. Phật là bậc giác ngộ đã thành tựu trí tuệ lớn, tình thương lớn và an lạc lớn. Quy y Phật là trở thành đệ tử của Đức Phật, nghĩa là ta phát nguyện hướng về một đời sống thanh cao. Dưới sự gia trì của chư Phật ta sẽ dễ dàng bước đi trên con đường thanh tịnh hóa thân tâm và sống đời hạnh phúc. Ta nương vào sự gia trì của đức Phật, nhưng đồng thời ta cũng bắt đầu thanh lọc thân tâm để làm lớn tính Phật trong mình. Pháp là những lời Phật dạy. Quy y Pháp là học hỏi và hành trì theo lời Phật dạy để chuyển hóa khổ đau thành an lạc. Tăng là những vị xuất gia dành cả đời mình để thực hành lời Phật dạy. Các vị có nhiều hiểu biết về giáo pháp và kinh nghiệp thực tập, ta cần thân cận học hỏi để sự tu tập của mình mau tiến bộ.

– Sư cô cho con Quy y Tam Bảo với ạ.
– Muốn Quy y Tam Bảo thì phải tiếp nhận năm giới để hành trì, nghĩa là năm tiêu chuẩn đạo đức. Năm tiêu chuẩn này như cái hàng rào bảo vệ ta trong đời sống hiền thiện, an vui. Nếu vượt qua hàng rào giới luật này đời sống của ta sẽ gặp hiểm nguy và khổ đau.

– Năm giới đó là gì ạ?
– Giới thứ nhất là không sát sinh. Ta sợ chết, sợ đau đớn, các loài vật khác cũng vậy. Hãy đặt mình vào địa vị chúng để cảm nhận nỗi sợ hãi đau đớn của các loài động vật mà phát khởi tình thương và không nỡ giết hại chúng sinh. Hơn nữa, gieo nhân nào sẽ gặt quả ấy, ta cậy mình mạnh mà hiếp đáp, giết hại chúng sinh thấp kém, yếu đuối hơn. Do ác nghiệp ấy ta cũng sẽ bị đọa làm súc sinh để bị hiếp đáp và giết hại trở lại. Ta phải chịu đựng tất cả những đau khổ mà ta gây ra cho chúng sinh khác. Vì vậy, hãy tự biết thương mình mà dừng lại ác nghiệp. Đó là giới thứ nhất, chú có phát nguyện từ nay trở đi không cố tình giết hại bất cứ một loài vật nào không?

– Thế nhỡ chẳng may con dẵm phải con giun, con kiến thì sao?
– Đó là chẳng may chứ không cố ý, như vậy thì không phạm giới.
– Thế thì con làm được ạ.

– Giới thứ hai là không trộm cắp. Tài sản do mình vất vả làm ra, nếu bị mất cắp thì mình rất đau khổ và oán hận. Nếu mình lấy của người khác, họ cũng sẽ đau khổ và oán hận. Quả báo của việc trộm cắp là sinh ra ở đâu cũng nghèo khổ, đói khát, nợ nần, bị người ghét bỏ, khinh chê. Khi ta giữ giới không trộm cắp thì tài sản của ta luôn được bảo toàn. Nếu ta lại còn biết cúng dường, bố thí, giúp đỡ người khó khăn thì ta được hưởng phúc báu giàu sang phú quý, được người kính nể. Chú có phát nguyện từ nay trở đi không bao giờ xâm phạm tài sản của người khác không?
– CON CÓ! CON KHÔNG BAO GIỜ LẤY CỦA AI CÁI GÌ HẾT – Chú dõng dạc nói lớn như thể trút hết ra những oan ức vì bị thiên hạ nghi ngờ. Lời nói như ngầm thanh minh với sư cô về nỗi oan và khẳng định sự trong sạch của mình.

– Giới thứ ba là không tà dâm. Không ăn nằm với người không phải là vợ hay chồng của mình, không tán tỉnh khi biết người kia đã có người yêu hay bạn đời. Không cố tình quyến rũ người khác khi lòng mình không thực sự thương yêu mà chỉ để đùa cợt hay thỏa mãn nhục dục. Nếu đã có người yêu hay bạn đời ta không nên phản bội người ấy. Nếu vi phạm giới này thì trong hiện tại và những kiếp sống kế tiếp, tình yêu và hôn nhân của ta luôn dang dở và chất chứa đầy đau khổ, con cháu cũng ngỗ nghịch không vâng lời. Ta sẽ phải chịu đựng hết những đau đớn như khi ta gieo cho người khác. Ngược lại, nếu giữ được giới này thì quả báo là ta luôn có một tình yêu đẹp và kết thúc bằng hôn nhân viên mãn, có bạn đời thủy chung, gia đình hòa thuận, con cháu thảo hiền. Chú có phát nguyện giữ gìn giới này không?
– Có ạ! Con làm được ạ!

– Giới thứ tư là không nói dối, nói lời thô ác, nói lời khinh chê, đâm thọc, nguyện chỉ nói những lời chân thật, tử tế, những lời đem lại hiểu biết và hòa giải, giúp người nghe có thêm tự tin, an vui và hi vọng. Giữ được giới này thì lời nói của ta luôn được người xung quanh tin cậy, ủng hộ, vâng theo. Ngược lại nếu ta nói dối, nói năng hồ đồng không suy nghĩ hay nói lời thô tháo, ác tâm thì hiện tại và tương lai ta nói không ai nghe, sinh ra nơi đâu cũng bị nói xấu, cãi vã, bất hòa. Chú có giữ được giới này không?
– Dạ, có ạ!

– Giới thứ năm là không uống rượu, không sử dụng ma túy, không xem sách báo, phim ảnh có nội dung xấu. Những chất gây say, nghiện hay sách báo phim ảnh xấu sẽ tàn phá thân tâm kéo đời sống của ta chìm sâu xuống thấp. Buông bỏ được những thứ độc hại kia thì ta sẽ có một thể chất khương kiệt và đầu óc minh mẫn, tâm hồn thanh thản.
Tôi đưa mắt nhìn chú dò xét:
– Chú có làm được không?
– Con… con.. bắt buộc phải bỏ rượu hả sư cô?
– Vâng, muốn Quy y Tam Bảo thì phải bỏ rượu và ma túy. Rượu và ma túy làm cho tâm trí u mê, đó là cái nhân để khi chết mình rơi vào cảnh giới súc sinh.
– Con … con … sẽ bỏ rượu ạ.
Chú nói một cách miễn cưỡng, vừa muốn cố gắng thay đổi đời mình, vừa muốn chiều ý sư cô.

– Tốt quá, chú cố gắng nhé!
Tôi không tin chú bỏ được nhưng vẫn động viên, ít nhất chú giảm được liều lượng là tốt lắm rồi. Bỗng người đàn ông nhìn tôi đau khổ, vừa như trách móc vừa như van nài:
– Sư cô ơi, cuộc đời con giờ chỉ có rượu là niềm vui duy nhất, sư cô bắt con bỏ rượu thì cuộc đời con còn gì nữa đâu?
Tôi lặng đi vài giây, lòng chùng xuống. Đúng! Người đàn ông này có còn gì nữa đâu? Nghèo khổ, cô độc, sự tin tưởng và tôn trọng của thế gian cũng không có. Chú lại không đủ khả năng để thực hành thiền, không đủ phước báu để hiểu hay hành trì Phật pháp. Chùa và các sư cô chỉ là nơi để chú cảm thấy an toàn. Chỉ có rượu là niềm vui duy nhất (dù niềm vui ấy tiềm ẩn khổ đau). Bắt chú bỏ rượu lúc này quả là một cực hình.
– Thôi được rồi, chú có thể uống rượu chút ít và giảm dần, nhưng đừng dùng ma túy nữa có được không?
Tới lượt tôi nài nỉ dù nghĩ rằng điều đó thật khó. Bất chợt chú ngước lên dõng dạc:
– Con không bao giờ dùng ma túy.
– Chú không dùng ma túy hả?
– Con không! Con thề là con không dùng ma túy, chưa bao giờ con dùng và sẽ không bao giờ dùng đâu.

Nếu không dùng ma túy thế cái đêm lâu rồi chú vào chùa với Thanh là chú canh cho Thanh trích ma túy à? Hay chú đi để … cổ vũ tinh thần? Tôi nghĩ thầm vậy thôi chứ tế nhị không hỏi. Chuyện qua rồi thì cho qua khơi lại làm gì. Nhưng tôi tin chú. Tôi tin người đàn ông này nói thật. Chiều hôm ấy trước ban Tam Bảo, tôi làm lễ Quy y cho chú. Chú Huy chính thức trở thành một vị Phật tử.

Không lâu sau đó, vào một buổi chiều, vừa đi xa về thì Hằng thông báo:
– Sư cô ơi, chú Huy chết rồi!
Hằng là một tập sự xuất gia, nay là sư cô Mai Tâm. Quá bất ngờ, tôi hỏi:
– Vì sao chú chết?
– Hôm qua chú ở chùa suốt từ sáng tới tối, chú xin các sư cô cho ngủ dưới bếp nhưng các sư cô không cho. Chú năn nỉ ngủ ở nhà kho. Các sư cô bảo đây là chùa ni, chú là nam giới không thể ngủ lại được, thế là chú về nhà, sáng hôm sau chú bị cảm và chết.

Bác trưởng thôn đang đứng đó, thêm vào: “May quá nó chết ở nhà, chứ chết trong chùa thì phiền lắm, phải khám nghiệm tử thi, rồi rất nhiều thủ tục liên quan tới thôn và chùa” . Tôi đưa mắt nhìn Hằng – một cô bé vốn rất … sợ ma. Rồi mỗi người theo đuổi một suy nghĩ riêng.

Tôi nghe một thoáng trống vắng trong lòng, từ nay không còn trông thấy hình bóng quen thuộc kia nữa nhưng lại thấy mừng cho chú quá. Chú có một cái chết thật đẹp. Không ốm đau, không bệnh tật, chẳng có gì để lưu luyến vấn vương. Ngủ một giấc là hôm sau đã qua thế giới bên kia. Người như thế dễ siêu thoát lắm. Chú nghèo khổ và cô độc, nếu ốm đau lại phải sống thọ thì khổ biết nhường nào?

Cận tử nghiệp của chú còn đẹp hơn nữa. Cận tử nghiệp là những suy nghĩ hành động trước khi chết. Tâm ý trước khi chết như thế nào thì chính tâm ý ấy sẽ dẫn mình tái sinh về nẻo đó. Trước khi chết chú chỉ ao ước được ở trong chùa, một lòng hướng về Tam Bảo, chú thèm khát một đời sống hiền lương, một đời sống thanh tịnh, một đời sống yên vui. Với tâm ý đó cộng với sự không dính mắc vào cuộc sống hiện tại, chú sẽ nhanh chóng được tái sinh vào đời sống hiền lương, thanh tịnh, yên vui. Tôi mừng cho chú lắm, mừng hơn nữa là đã kịp quy y Tam Bảo cho chú, chú sẽ được bảo vệ trong giáo pháp. Tôi chia sẻ điều này với các sư cô, ai cũng thấy đó là một việc lành, chú thật may mắn. Chúng tôi lặng lẽ làm lễ cầu siêu cho chú, buổi lễ đơn giản nhưng trang nghiêm và long trọng. Ai cũng thấy vui trong lòng và tin rằng chú sẽ sớm tái sinh vào một đời sống mới tốt đẹp hơn. Chú đã có thiện duyên với chúng tôi thì sẽ còn gặp lại nhau trong đời sống mới để tiếp tục trợ duyên cho nhau trên bước đường tiến tới giác ngộ.

Hôm sau, có bà Phật tử sang cúng dường rau cho chùa, bà đứng đó xa xả kể chuyện:
– Sư cô ạ, Thằng Huy nó chết rồi đấy, cái thằng nó chết cả làng mừng.

Tôi thấy khó chịu và đau lòng trước câu nói đó, tôi phản ứng thầm trong tâm “Bà, sao bà lại nói như thế?”. Nhưng nhìn lại thì đây là người phụ nữ chín chắn, có uy tín trong làng, không phải là người hồ đồ, nông cạn, chắc phải có lý do gì thì người ta mới nói như vậy. Tôi thận trọng hỏi lại:
– Tại sao lại thế ạ?
– Thằng này suốt ngày rượu, ai nó cũng chửi. Nó còn đòi đánh người ta, dọa đổ xăng đốt nhà người ta nữa. Trước nó giết người bị đi tù 20 năm, ra tù thì vợ con bỏ, chả làm ăn gì, suốt ngày rượu chè, côn đồ, mất dạy không ai thèm dây.

Tôi có nghe nhầm không nhỉ? Người đàn ông trong chùa mà chúng tôi biết rất hiền lành, duy có một lần say rượu quát mắng tôi, nhưng tỉnh rượu là đi sám hối chuộc lỗi ngay. Người ấy rất kính trọng các sư cô, các sư cô nhờ gì làm đấy, rất lễ độ và nghe lời, thế mà khi bước chân ra khỏi cổng chùa là thế kia ư? Vì đâu nên nỗi? Cũng là sự vui, nhưng sự vui của chúng tôi và sự vui của dân làng khác nhau quá.

Tôi không hề biết ở bên ngoài chú hư đốn như vậy. Và mọi người cũng không hề biết ở trong chùa chú ngoan ngoãn, tử tế như thế nào. Chú được các sư cô đối sử bình đẳng, quan tâm, tôn trọng, lắng nghe, đáp lại là sự thành thật, tin cậy, quý kính, đền ơn. Còn bên ngoài chú bị xa lánh, coi thường, nghi ngờ nên đáp trả là sự sân hận, oán thù, phòng vệ. Khi bị dồn vào đường cùng người ta trở nên dữ tợn là điều vẫn thường xảy ra.

Trong mỗi người đều có đủ những hạt giống thiện và bất thiện. Hạt giống nào được vun bón, tưới tẩm thường xuyên thì hạt giống ấy sẽ nẩy mầm và lớn mạnh. Thật may là cuối đời, phần lớn thời gian chú đều ở trong chùa, được tưới tẩm những hạt giống thiện nên mảnh đất tâm của chú mầm thiện nảy nở rất mau. Ngày cuối cùng, chú muốn đem cả thân tâm nương nơi cửa Phật. Chú muốn làm người tử tế và mái chùa đơn sơ đã chở che cho ước muốn ấy. Các sư cô còn quá trẻ, chưa giảng được những bài pháp cao siêu, nhưng tâm trong sáng và hiền thiện của các sư cô như những cơn mưa rào làm cho mầm thiện trong chú mơn mởn vươn lên. Chú đã trải qua một đời sóng gió, nhưng cuối cùng có được một cái kết tốt đẹp. Chúng tôi tin rằng những kiếp sống mới của chú sẽ ngày càng tươi sáng hơn.

Sư cô Lĩnh Nghiêm