Buông câu từ chiều tới sáng

IMG_3089

Một trong những định nghĩa về hạnh phúc đó là được làm những gì mình thích và thích những gì mình làm. Có vô vàn ví dụ cho định nghĩa ấy, nhưng hình như ai muốn chạm vào những khoảnh khắc hạnh phúc đều phải biết buông bỏ ít nhiều.

Trên lòng hồ Hòa Bình, có người thợ sửa xe bỏ khách, có ông kỹ sư bỏ hết nhà cửa con cái ở Hà Nội để sớm chiều buông câu giữa dập dềnh sóng nước. Với họ, đó không chỉ là thú vui hoặc không chỉ để mưu sinh…

Trở lại xóm Doi

Mới 4 giờ chiều, anh Đồng đã say lắm. Đám giỗ thông trưa đến chiều ở bản bên khiến ông chủ bến tàu khách xóm Doi (xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình) gần như quên béng lời hẹn đưa tôi đi câu đêm trên lòng hồ. Nói “gần như” là bởi thấy khách thì anh nhớ ra ngay, và mặc tôi hết lời ngăn cản, dù chân bước như xoắn quẩy, anh vẫn nằng nặc kéo tôi xuống thuyền, với cái lý của một “người say có trách nhiệm”, rằng đã hứa đi là phải đi chứ(!)

Nỗi lo của tôi lập tức thành hiện thực, vừa chèo chống cập quạng được vài chục mét, tới ngang mấy cái lồng nuôi cá, anh Đồng ngã cắm đầu xuống nước, chìm nghỉm. Tôi cuống cuồng tháo đôi giày cao cổ định nhảy theo, nhưng 2 người đàn ông ngồi trên lồng bè chỉ cười, một người vẫn thong thả chỉnh mấy chiếc cần câu, người kia điềm nhiên phà khói thuốc lào, xua tay: “Không sao đâu, lâu lâu lại mời cá uống rượu ấy mà, rồi nó khắc lên được”… Hơn chục giây lo đến thót tim, rồi anh Đồng ngoi lên phun nước phì phì, tự trèo lên lồng bè móc họng cho “của thiên trả… thủy” xong, ngoái lại tôi với nụ cười hối lỗi: “Bác thông cảm nhé! Người vùng cao mời rượu thì khó từ chối lắm”.

2 người bạn câu phụ tôi dìu “khổ chủ” vào lều thay quần áo, đắp chăn… rồi hối hả lao ra cửa khi thoáng nghe tiếng chuông leng keng vui tai, cùng reo nhỏ: “Dính rồi!”. Một người rút ngọn cần câu có gắn chuông ở đầu cần, vừa đều đặn tay quay thu cước vừa thông báo: “Lại một con ngạnh nữa. Cá nhỏ thôi”. Người kia lấy chiếc vợt cầm tay, phụ họa: “Hai tuần rồi chưa thấy con nào quá 1 cân”… Ít phút sau, chú cá da trơn mình dẹt lưng nâu bụng trắng lườn vàng đã nằm gọn trong vợt, ngúc ngoắc mấy cái râu dài, phát ra những tiếng ọt ẹt.

IMG_2973

 Anh Thành sử dụng cùng lúc nhiều cần câu

Người vừa được cá tên là Thành, quê ở huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, lên Hòa Bình lập nghiệp đã lâu, mở tiệm sửa xe máy ngoài thị trấn Đà Bắc. Nhanh nhẹn thay mồi mới rồi vung cần quăng thả mồi xa dễ đến ngót 50m, anh cho biết loài cá ngạnh sống ở tầng đáy sông, thường tụ tập ở những vùng nước nhiều bùn, ít gió, nên phải dùng cước dài. Chúng thường ăn mạnh từ lúc nhập nhoạng tối cho đến khoảng 22h, ngoài giờ đó thì chúng ăn mồi rất tùy hứng. Cá ngạnh là một trong những đặc sản của sông Đà, dân nhậu thường mua về làm lẩu hoặc nấu canh chua với giá 120.000 – 150.000 đồng/kg tùy kích cỡ cá. Dây câu cá ngạnh thường có nhiều lưỡi, phía trên gắn lò xo giữ mồi. Người câu dùng mồi dẻo vò thành nắm nhỏ hình trụ quấn quanh lò xo, sau đó găm các lưỡi câu quanh mồi.

Bạn câu của anh Thành tên là Tú, ở phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình giải thích thêm, muốn bắt loài cá nào thì phải dùng mồi thích hợp, thành phần trong một loại mồi câu có thể gồm đến vài chục vị khác nhau. Làm mồi câu cá ngạnh khá kỳ công và tốn kém, phải dùng trứng gà, trứng vịt, bột ngũ cốc, chuối, sữa chua, râu mực khô và nhiều vị khác, trộn theo tỷ lệ nhất định và nhào kỹ cho được một thứ bột thật nhuyễn màu nâu sẫm, rồi nặn thành những miếng tròn “vừa miệng cá”. Ở Hòa Bình có cả những cửa hàng chuyên bán mồi câu cá ngạnh với bí quyết pha chế riêng. Anh Tú cười: “Câu không giỏi thì tiền mồi đắt hơn tiền cá, lỗ vốn là thường. Hôm nào rỗng túi thì tôi tìm bắt mối và gián đất làm mồi câu, đó cũng là món khoái khẩu của cá ngạnh”.

IMG_2999

Cá ngạnh – một đặc sản sông Đà

Bóng tối loang dần trên mặt hồ gợn sóng trong gió lạnh. 2 người bạn câu dùng hết cả mớ cần mang theo, cắm san sát bên sườn bè, mỗi cái quay một hướng. Lại một con ngạnh nữa được lôi lên bè, to suýt soát cổ tay, giãy giụa thật lực. Chỉ một giây sơ ý, bàn tay anh Thành đã “dính” một ngạnh của con cá hung hăng, máu chảy đầm đìa, khiến anh xuýt xoa vì nhức buốt. Xé mảnh vải cũ băng tạm tay cho bạn, anh Tú tặc lưỡi: “Thế nào rồi bà tướng ở nhà cũng lại cằn nhằn cái tội bỏ cả khách sửa xe để đi câu, lại còn băng bó mà về. Thằng cha này mê câu đến mức hôm nào cũng đóng cửa tiệm vác cần đi trước cả giờ nhà nước”.

Anh Thành cười hiền lành: “Cũng là cái thú anh ạ. Chim trời cá nước, lắm hôm ngồi thiền đến khuya rồi lại vác cần về không, hôm nào được nhiều cũng chỉ khoảng 1 – 2kg cá, đủ bữa lẩu vui cùng bạn bè. Ví phỏng ở nhà sửa thêm mấy chiếc xe thì đúng là thêm tiền đấy, nhưng chắc gì đã sống vui sống thọ bằng tối tối được hưởng gió mát trăng thanh”.

Vẫn biết xưa nay nhiều người buông câu mà tâm trí chẳng để ở cần câu, bỗng chợt vơ vẩn so sánh ngộ nghĩnh rằng cái cần câu tựa cái “barie” của những người biết dừng, biết đủ, để cuộc đời có thể bớt đi một chút bon chen…

Hơn 8h tối, 2 tay câu tài tử “thu dọn chiến trường”. Anh Thành bảo tôi: “Cha Đồng này chắc phải ngủ đến sáng. Anh thích câu đêm thì sang đằng kia hỏi ông Thái, cái bè nhỏ đang bật nhạc oang oang đấy”.

Người Hà Nội ở lòng hồ

Lần mò bước thấp bước cao men mép nước dưới chân đồi lổn nhổn đất đá trong bóng tối mờ mịt khiến chỉ biết định hướng theo tiếng nhạc, tôi đến căn “nhà nổi” tồi tàn nhất xóm Doi. Trên bè có 3 người, một lão ngư gày gò râu tóc muối tiêu đã ngả gần bạc trắng, một phụ nữ to béo và một bé gái khoảng 4-5 tuổi. Chưa biết xưng hô thế nào, chủ nhà đã vồn vã: “Chú vào chơi uống nước với anh chị. Kìa Thủy chào chú đi con!”.

Chưa hết “choáng” với ông lão 70 mà con mới học mẫu giáo, tôi lại “ngợp” vì bất ngờ với màn tự giới thiệu: “Chú người Hà Nội phải không? Vậy là gặp đồng hương rồi. Anh là Nguyễn Văn Thái, quê gốc Hà Nội đây. Còn quả bí ngô dễ thương này là tình yêu của anh, tên là Bùi Thị Út, người Thái ở Mộc Châu, Sơn La. Con bé theo họ Bùi của mẹ, anh đặt tên là Thu Thủy, vì nước lòng hồ Hòa Bình cũng xanh như nước hồ Tây ở Hà Nội mùa thu”.

IMG_4179IMG_4174

Niềm vui của gia đình lão ngư Nguyễn Văn Thái

Chất lãng tử Hà thành của chàng sinh viên Khóa 10 Đại học Bách khoa Hà Nội ngày xưa vẫn bồng bềnh trên mái tóc bạc để dài chấm vai lão ngư, và cả trong câu chuyện đầy triết lý, dào dạt những thơ văn một thuở… Bà Út thì chỉ cười bẽn lẽn, lịch kịch khuân “đồ nghề” câu đêm xuống thuyền cho ông mà chốc chốc lại ngước nhìn chồng bằng đôi mắt đầy ngưỡng mộ.

Ông Thái nổ máy con thuyền có mui nhỏ xíu, dặn vợ bằng giọng hài hước nhưng đầy yêu thương: “Đêm nay anh phục vụ khách đồng hương. Mình ngủ sớm đi, để gần sáng anh về chui vào chăn là mình phải… tỉnh táo đấy nhé!”. Rồi ông quay sang tôi với tràng cười hào sảng: “Vợ chồng anh giao ước rồi chú ạ, đêm nào vợ cũng đi nằm trước cho ấm chăn đệm rồi chồng mới vào… Cuộc đời như mùa đông khắc nghiệt lạnh giá, còn tình yêu là bếp lửa. Phải biết chăm chút cho bếp luôn cháy đượm, thì lửa sẽ sưởi ấm lòng ta!”.

Đêm lòng hồ mênh mông kỳ ảo, sương mờ lởn vởn như khói sóng, khiến bóng áo trắng của lão ngư lòa nhòa siêu thực. Thuyền chạy rất lâu, tiếng máy đùng đục va đập vào màn đêm lạnh rung rinh mảnh trăng lưỡi liềm. Theo ông Thái, có ở cả tháng cũng không sục sạo hết được những đảo, những vịnh suốt chiều dài 230 km của hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam này. Điểm gần nhất ông thường giăng câu cũng cách xóm Doi ngót 30 km.

Nước hồ xanh trong vắt, dưới ánh đèn pin thấy rõ từng đàn cá mương tung tăng gần mặt nước. Ông Thái bảo, đối tượng chính của thợ câu đêm là cá ngão (dân lòng hồ gọi là cá thiểu) và cá măng, thường lượn lờ ở tầng nước sâu hơn một chút, khoảng vài ba mét. Cá măng được mệnh danh là một trong những “quái vật sông Đà”, rất khoẻ và hung dữ, hàm răng sắc nhọn không thua cá sấu. Tất cả các loài cá nước ngọt đều có thể là thức ăn của cá măng, thậm chí nhiều khi chúng ăn thịt cả đồng loại. Nếu thấy vùng nước trũng nào bỗng dưng nổi sóng hoặc bong bóng sủi mạnh, nghĩa là “quái vật” đang ăn mồi. Mấy tháng trước, ông Thái bắt được con cá măng 26 kg, dài hơn một mét. Với giá bán 250.000 đồng/kg, con cá giúp gia đình ông có chăn màn mới và đôi loa nghe nhạc. “Kỷ lục cá măng” hồ Hòa Bình là chú cá nặng gần 100 kg do một thợ câu quê ở Hà Tây tóm được cách đây 7 năm. To khỏe và nóng nảy, cá măng bị mắc câu hoặc lưới có thể lôi thuyền đi xềnh xệch, nhưng chỉ cần thợ câu bình tĩnh dong thuyền theo một lúc là “quái vật” sẽ “nản lòng”, ngửa bụng lên mặt nước.

IMG_4185IMG_4187

Ông Thái chuẩn bị đồ câu với mồi lông gà

Còn cá thiểu thì có rất nhiều ở lòng hồ Hòa Bình, mình phủ vẩy mềm trắng lóa như dát bạc. Người ta thường bắt được loài cá này quanh năm, nhưng nhiều nhất trong khoảng 10 ngày giữa các tháng Âm lịch vào mùa nước trong. Cá thiểu cũng có thể nặng tới hàng chục kg, nhưng do đánh bắt quá nhiều nên giờ chỉ hay được cá nhỏ. So với cá măng thì cá thiểu thuộc loại “bình dân”, ngay bên Quốc lộ 6 đoạn qua thành phố Hòa Bình hoặc ở đền Thác Bờ và khu du lịch Thung Nai trong lòng hồ, người ta bán rất nhiều cá thiểu nướng với giá khoảng 100.000 đồng/kg. Cá thiểu có thể nướng tươi hoặc chế biến theo cách kỳ công hơn: thả vào thùng nước muối theo tỷ lệ 10 kg cá/ 3 kg muối, ngâm cho cá uống no nước muối, đến khi sạch cả lục phủ ngũ tạng mới vớt ra hun khói suốt một ngày đêm. Cá hun kiểu này có vị dai dai, mằn mặn, ngòn ngọt, chấm mù tạt vắt chanh thì… rất tốn bia(!)

Săn cá măng và cá thiểu, ông Thái dùng dây câu chính dài 250m có gắn nhiều phao bằng vỏ chai nhựa và mảnh xốp, cứ cách 1m buộc 1 lưỡi câu có ngạnh kèm túm  lông gà, tổng cộng 250 cái mồi giả. Những sợi lông cổ gà màu đỏ đong đưa mời mọc trong làn nước, trông tựa con mối cánh mà cá măng, cá thiểu rất thích ăn. Ông Thái cười dí dỏm: “Không phải mình biết cách câu khôn, mà chỉ bắt những con cá dại thôi”. Nói dễ vậy, chứ phải chuẩn bị rất tỉ mỉ, xếp lưỡi câu kèm mồi giả vòng trên miệng chậu, cước và phao khoanh tròn trong lòng chậu, vừa guồng chân chèo thật nhẹ vừa thả thật đều tay thì mới không rối cước. Cũng mất ngót nửa giờ, cả dây mồi lông gà mới được rải đều dưới mặt nước khoảng 4m theo một đường vòng cung đúng ý người câu.

IMG_2986

Một “chiến lợi phẩm” từ chuyến câu đêm

Xong xuôi, ông Thái ghé thuyền vào một hòn đảo vô danh, tìm chỗ khuất gió thả neo rồi lôi ra chai rượu với mấy con cá rán được bà Út gói cẩn thận trong mảnh lá chuối khô: “Được vợ yêu sướng thế đấy chú ạ. Lại thêm đêm thanh sóng gợn, mình đi câu là lao động kiếm sống mà cũng như rong chơi ngoạn cảnh, chắc gì nhà cao cửa rộng đã hạnh phúc bằng!”. Nâng chén rượu sóng sánh, câu chuyện tâm tình về cuộc đời ông cứ dào dạt như gió hồ đêm…

Thời ở Hà Nội, ông Thái tham gia xây dựng nhiều chung cư và công trình giao thông lớn. Cương trực không biết “thuận theo thời thế”, nhiều phen đời ông thăng trầm, nhưng cũng có căn nhà nhỏ ấm cúng với vợ con làm nguồn vui. Đến khi các con đã lớn, vợ lại mất vì bạo bệnh, ông không còn lý do để kìm nén khát vọng sống theo cách mình muốn. Ông xin nghỉ hưu sớm, “về một cục” lấy tiền cho con ăn học và làm vốn đi buôn tre nứa. Bão gió và ghềnh thác sông Đà đã cướp của ông không biết bao nhiêu chuyến bè, nhưng lại đem đến mối tình cho tuổi xế bóng. Một chuyến đi buôn qua Mộc Châu, ông Thái “say nắng” khi gặp một phụ nữ đứng tuổi lầm lũi làm nương một mình. Ông bảo cái cảnh đàn bà đơn bóng nó xé lòng lắm, như có nhà thơ đã tả: “Dù đau khổ cũng xin đừng thiếu vắng – Xin đừng ai đơn chiếc ở trong đời”. Ông Thái đằng đẵng đi theo, “cưa” bằng được bà Út, chấp nhận theo tục ở rể của nhà gái để tổ chức đám cưới vào năm 1992. Trước đó, ông đã bán căn nhà ở Hà Nội, chia đều hết cho 2 con của người vợ trước.

Ở rể, được cha mẹ vợ cho đất tại Mộc Châu, nhưng ông thích cùng “hồng nhan tri kỷ” phiêu dạt giang hồ theo nghề chài lưới khắp nơi và từ năm 2005 mới định cư ở xóm Doi, trong “túp lều lý tưởng” ghép bằng tre nứa bồng bềnh trên sóng nước lòng hồ Hòa Bình.  Hai đứa trẻ, một trai một gái lần lượt chào đời trên chiếc bè tình yêu ấy, nay thì cậu con trai đã “lên bờ” đi học nội trú, còn bé Thu Thủy quấn quít với bố – ông bảo cô bé là món quà đẹp nhất mà bà Út tặng ông. Sau hai lần sinh nở, bà Út béo tròn, nặng gấp đôi chồng. Ông Thái cười khanh khách: “Tôi chỉ muốn được ôm quả bí ngô của mình ngủ đến ngày từ giã cõi đời…”.

IMG_4255

Cá sông Đà sẽ càng ngon hơn khi được nướng hoặc hun khói bằng loại củi dạt từ thượng nguồn về

Ông cũng chẳng giấu, nổi trôi theo dòng đời nhiều lúc buồn lắm chứ! Nhưng càng về già ông càng nghiệm thấy điều mà người xưa từng đúc kết, rằng hạnh phúc luôn có mặt ở nơi nào người ta tìm thấy nó. Con chim có tổ thì phải giữ cái tổ của nó ấm áp, mình được hưởng tình già, âu cũng là phúc phận trời ban, còn mưu cầu gì nữa mà không vui sống, tối ngày cạn chén buông câu tới nghiêng ngả thích tình!

Về khuya gió càng hun hút, chẳng còn biết đâu là bầu trời mặt nước, con thuyền nhỏ đong đưa êm như cánh võng làm tôi thiếp đi trong lúc lão ngư đa tình vẫn ngâm ngợi mấy vần thơ…

Gần sáng, ông Thái bắt đầu “thu hoạch” một cách thận trọng. Công việc thú vị này luôn ẩn chứa nguy hiểm, nhất là nếu cá lớn dính câu có thể quẫy lộn làm hàng chục lưỡi câu sắc nhọn cắm ngập vào tay ngư phủ, hoặc khiến cả đống dây lùng nhùng rối tung lên thì ngồi gỡ cũng mất cả ngày… Không được nhiều lắm, chỉ 7-8 con cá thiểu cỡ trung bình, 1 con cá măng nhỏ và đến cuối dây câu có thêm chú cá ngạnh “đi lạc” lên tầng nước trên. ,Ít cá, ông Thái vẫn cười giòn, trời cho sao thì dùng vậy, mình phải biết tự điều chỉnh nhu cầu sống để lúc nào gia đình cũng “chỉ có” hạnh phúc hơn. “Ngần này cũng đủ lát nữa đãi đồng hương món cá nướng và lòng cá ướp mẻ xào gừng sả rồi” – ông vừa nói vừa nhoài người vớt khúc củi trôi sông. Cá sông Đà sẽ có vị ngon đặc biệt khi được nướng hoặc hun khói bằng loại củi dạt từ  thượng nguồn về, ngâm nước càng lâu thì sau khi phơi khô đốt cháy càng đượm và khói càng thơm.

Chúng tôi về bến khi bình minh ló rạng. Hội câu đêm vừa tàn, hội câu sáng đã í ới tiếng lũ trẻ xóm Doi, mỗi đứa một thuyền, tay dong cần, chân guồng chèo thành thạo. Cu Minh, con anh Đồng dẫn đầu, chỉ một loáng đã giật được chú rô phi to cỡ bàn tay, hớn hở giơ lên khoe ông bố vẫn còn ngái ngủ. Anh Đồng lại bẽn lẽn gãi đầu, bảo tôi: “Bác ở chơi đã nhé, hôm nay Đồng không uống nữa, mình đi xa hơn mới dễ được cá lớn!”…

Bài và ảnh: Nguyễn Việt

 IMG_3101

Mới sáng sớm, cu Minh đã câu được cá