BHALÊÊ – ĐẠI NGÀN GIỤC BƯỚC Bài 2: Thêm trang sách tặng trò nghèo

Nằm bên đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại, khuất lấp giữa trập trùng núi rừng Trường Sơn, trường phổ thông dân tộc bán trú THCS Nguyễn Bá Ngọc là mái nhà chung của 326 học sinh người dân tộc Cơ Tu.

Thầy Hiệu trưởng Huỳnh Phước Tài cho biết: 100% học sinh của trường là con em các gia đình nghèo, sống rải rác trong các thôn bản thuộc xã Bhalêê và xã A Vương. Đây là 2 trong số những xã thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, sát biên giới với Lào.

Chỉ khoảng 1/3 tổng số học sinh trường Nguyễn Bá Ngọc nhà cách trường vài cây số, nghĩa là có thể về nhà hàng ngày. Hơn 200 em còn lại, nhà đều xa trường trên 7 km, nhiều em phải vượt đến 20 km đường mòn xuyên rừng để tới trường.

Dễ hiểu vì sao ngay cả dịp cuối tuần, trường Nguyễn Bá Ngọc vẫn rất đông học sinh ở lại, do đường xa cách trở, nhiều em chỉ về nhà mỗi tháng được 1 – 2 lần. Có đến tận nơi mới thấu, khẩu hiệu “Trường là nhà, thầy cô là ba mẹ, bạn bè là anh em” không phải như một hình thức tuyên truyền nào đó, mà thực sự là “việc hàng ngày” đối với thầy trò vùng sâu.

Học sinh người Cơ Tu tại xã Bhalêê

Xã Bhalêê, nơi trường Nguyễn Bá Ngọc đóng “đại bản doanh”, là quê hương của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Alăng Bhuốch – người con huyền thoại của núi rừng, từ nhỏ đã sống trong bóng tối vì đôi mắt mù lòa, nhưng vẫn mang vác lương thực, vũ khí phục vụ bộ đội đánh Mỹ. Ông Alăng Bhuốch sinh năm 1938, ở thôn Arung, xã Bhalêê. Trong 14 năm liên tục (1958 – 1972), ông đã cõng trên lưng 120 tấn vũ khí và 62 tấn lương thực, tiếp tế ra chiến trường. Có lần, ông gùi cả súng DKZ nặng hàng trăm cân từ Bình Trị Thiên vào mặt trận Quảng Đà…

Vài chục năm trước, Bhalêê chỉ là một cụm bản với nhiều thế hệ chưa lần nào thấy đường ôtô, chưa được nghe rađio. Người Cơ Tu hồi đó không có vải may áo, phải bện áo bằng vỏ cây; chẳng có mắm muối nấu cơm, phải đốt cỏ tranh lấy tro mặn. Thời chiến tranh, dân bản phải luồn sâu vào rừng, sống khép mình theo các sườn núi, chạy nay đây mai đó để trốn bom Mỹ, ít khi gặp được người bên ngoài vào.

Ngày đó, muốn lên các xã vùng cao của huyện Tây Giang như xã Bhalêê và xã A Vương, phải vượt những ngọn núi đầy hiểm trở, men theo “con đường muối”, đi bộ từ trung tâm huyện lên mất 3 ngày. Sau này, một người Cơ Tu nổi tiếng khác là ông Clâu Bhlao đã làm nên kỳ tích, leo lên các ngọn cây cao quan sát, phóng tuyến mở đường để rút ngắn thời gian đi bộ lên khu 7 xã xa xôi ở vùng biên xuống còn 1 ngày. “Đường Clâu Bhlao” gần như trùng khít với con đường nhựa được nhà nước đầu tư những năm gần đây.

Nói vậy đủ biết cuộc sống của người Cơ Tu cơ cực thế nào. Đói cơm thiếu áo, cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ 20, bà con vẫn quen sinh hoạt tự cấp tự túc. Sự học hành vô cùng nan giải. Cả làng chẳng mấy người biết chữ, điệp khúc lạc hậu, đói nghèo cứ triền miên. Nhiều trẻ em trong độ tuổi đi học vẫn không sẵn sàng đến trường. Đưa được học sinh Cơ Tu đến lớp vẫn chưa hết lo, bởi tỷ lệ lưu ban cao, nghỉ học sớm cũng nhiều…

Vùng cao, mỗi tờ báo, mỗi cuốn sách đều quý

Với sự hỗ trợ từ Tổ chức Cứu trợ trẻ em quốc tế – SCI, huyện Tây Giang đang thực hiện dự án “Nâng cao khả năng sẵn sàng đi học và kết quả học tập cho trẻ em dân tộc thiểu số tại Việt Nam”. Một trong những mục tiêu của dự án này là nỗ lực xóa rào cản do bất đồng ngôn ngữ, thành lập các hội cha mẹ, đôi bạn cùng học, ngày hội đọc sách… để trẻ tiếp cận với văn hóa đọc.

Trước đó, SCI cũng đã triển khai thí điểm bộ công cụ hỗ trợ trẻ mầm non làm quen với đọc viết toán và tiếng Việt tại huyện Tây Giang. Theo đánh giá của Phòng GD-ĐT huyện, dự án này đã giúp nhiều giáo viên mầm non ở địa phương biết lồng ghép hoạt động phát triển kỹ năng làm quen với toán và đọc viết cho trẻ và văn hóa đồng bào Cơ Tu để chế tạo đồ dùng dạy học cho trẻ. Nhờ vậy, các bé người Cơ Tu ham thích học tập hơn. Phương pháp tiếp cận này được bổ sung thêm yếu tố giáo dục song ngữ, giải quyết rào cản ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh.

Giáo viên được tập huấn tại trường và phụ huynh cũng được tập huấn tại nhà về các phương pháp cải thiện kết quả học tập của trẻ. Chuyển biến rõ rệt nhất so với trước kia là giờ phụ huynh biết cách giáo dục con, học cùng con, làm đồ dùng học tập cùng con. Điều này rất có ý nghĩa, bởi nếu chỉ dạy học đơn thuần ở trường thì hiệu quả rất hạn chế, do học sinh người Cơ Tu gặp khó khăn rất nhiều về mặt ngôn ngữ trong lớp học.

Tuy nhiên, cũng mới có 4 trường được hưởng lợi từ dự án này, gồm: Tiểu học xã A Tiêng, Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học xã Bha Lêê, Tiểu học xã A Vương, Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS xã Dang… Đói kiến thức, đói sách vẫn là thực trạng của phần lớn các trường ở 7 xã vùng cao Tây Giang, trong đó có trường phổ thông dân tộc bán trú THCS Nguyễn Bá Ngọc.

Thư mục trong thư viện của trường Nguyễn Bá Ngọc

Thiết thực góp phần đưa ánh sáng văn hóa về bản làng Cơ Tu, mới đây, tình nguyện viên thuộc nhóm Cô Son đã nỗ lực quyên góp và phối hợp với Hội từ thiện Sông Hàn vận chuyển hơn 1.000 cuốn sách các loại lên tặng thầy trò trường phổ thông dân tộc bán trú Nguyễn Bá Ngọc.

Đón nhận món quà bất ngờ và đầy ý nghĩa, thầy hiệu trưởng Huỳnh Phước Tài cảm động chia sẻ: “Đây là sự hỗ trợ vô cùng quý báu với trường! Ở đây học sinh cấp 1 được huyện Tây Giang hỗ trợ sách giáo khoa, tài liệu học tập. Còn cấp 2 như trường em thì sách vở thiếu thốn nhiều, sách truyện lại càng hiếm.”

Do nhiều năm lạc hậu, thiếu thốn, việc truyền bá kiến thức cho học sinh người Cơ Tu cực kỳ vất vả. Ngoài giờ học trên lớp, các giáo viên trường Nguyễn Bá Ngọc phải làm việc cả buổi tối, kèm cặp các em làm bài tập. Buổi tối, các phòng học vẫn sáng đèn, học sinh ôn bài theo nhóm, ra ngoài phải xin phép thầy như trong giờ học chính vậy.

Thầy giáo Nguyễn Tấn Hòa, một trong số giáo viên quản lý học sinh học bài buổi tối, kể: “Dưới xuôi, các đồng nghiệp hết giờ lên lớp là được về nhà. Bọn em ở đây thì phải sau 10h đêm mới được nghỉ. Học sinh vùng cao chưa có thói quen tự học, nên phải kèm sát, nhắc nhở suốt. Chưa kể nhiều em nhà xa, ít được gặp gia đình, nên thường trốn về, qua rừng ban đêm rất nguy hiểm. Đồng bào họ giao con em cho trường, mình phải chịu trách nhiệm hết. Tối nào học xong em cũng phải điểm danh, khóa cửa trường rồi mới dám ngả lưng… May được các anh chị hỗ trợ nhiều sách quý, cũng là giúp giáo viên chúng em nhiều lắm. Có sách truyện, học sinh thêm hứng thú học chữ, thêm gắn bó với trường lớp thầy cô, lại được mở mang kiến thức”.

Thêm sách tặng trường nghèo

Được biết, lâu nay nhà trường đã nỗ lực xây dựng thư viện từ nguồn xã hội hóa. Các thầy cô tận dụng mọi quan hệ quen biết để quyên góp tủ sách, bàn đọc sách… nhưng bởi trường xã xôi cách trở nên nhiều nơi có sách mà không chuyển lên được.

Tuyến đường độc đạo nối với miền xuôi, tuy đã được nâng cấp, trải nhựa, song vẫn quanh co hiểm trở. Mùa mưa bão, sông Kôn và nhiều dòng suối lớn nước dâng, lũ tràn ngập có những khúc đường chìm sâu 1,8m dưới nước, đứt đoạn. Mới năm trước thôi, núi sạt cả đoạn dài, cô lập cả xã hàng tháng trời. Những lúc như thế, lo chuyển lương thực cứu đói đã nan giải, nói gì đến sách vở, học hành…

Vùng cao khó khăn chồng chất, học sinh đi học tuy được hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước, nhưng vài trăm ngàn đồng/tháng cho mỗi em, lo được đủ ăn mặc đã trầy trật, lấy đâu ra mua sách nữa. Đó là chưa kể, do một số xã được đánh giá đang thoát nghèo, nên chế độ hỗ trợ cũng theo đó mà giảm bớt.

Từ năm 2018, huyện Tây Giang có 381 học sinh thuộc diện bán trú ở 9 xã bị cắt các chế độ hỗ trợ của Nhà nước, gồm tiền ăn, gạo, được ở bán trú hoặc hỗ trợ tiền ở… Đúng là mặt bằng chung thì xã đã bớt nghèo, nhưng cụ thể từng gia đình thì không đồng đều, nhiều em hoàn cảnh vẫn khó khăn lắm.

Bữa tối của học sinh trường Nguyễn Bá Ngọc

Do không còn “là dân thuộc xã nghèo”, nhiều học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú THCS Nguyễn Văn Trỗi bị cắt chế độ hỗ trợ, buộc trường phải xóa bỏ mô hình trường bán trú; 180 em học sinh phải tự lo ăn, ở. Trường PTDTBT-THCS Lý Tự Trọng có 50 em; Trường PTDTBT-THCS Nguyễn Bá Ngọc có 40 em và Trường PTDTBT-Tiểu học Bhalêê có 33 em chung hoàn cảnh như vậy…

Màn đêm buông dần, ngôi trường Nguyễn Bá Ngọc như “điểm sáng” giữa núi rừng ken đặc. Huyện Tây Giang có diện tích độ che phủ rừng tự nhiên chiếm gần 70% diện tích toàn huyện, với hơn 1.146 cây di sản Việt Nam, lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Dưới ánh điện soi sân trường, hàng trăm học sinh vẫn xuýt xoa trầm trồ bên những chồng sách thơm mùi mực mới, và xếp hàng cho các cô chú trong đoàn thiện nguyện và các thầy giáo sửa tóc, cắt móng tay…

“Học trò đông, giáo viên ít, bọn em cố gắng giữ vệ sinh cho các cháu ở lại trường mà chẳng xuể. Không ngờ các anh chị không những mang sách lên mà còn mang cả đồ nghề cắt tóc nữa, vui quá!” – thầy hiệu trưởng Huỳnh Phước Tài hồ hởi.

Ước mơ vùng cao giản dị trong sáng vậy thôi. Được ăn no, được đọc sách, được sạch sẽ, được quan tâm và sẻ chia… những việc ngỡ quá đỗi nhỏ nhoi đối với “miền xuôi”, nhưng sẽ góp phần vững bước cho những đôi chân lam lũ bé nhỏ trên hành trình vào tương lai của lớp đàn em người Cơ Tu ở xã xã Bhalêê, xã A Vương.

Mong sớm đến một ngày, quãng đường 120 km đèo dốc về thành phố sẽ không còn là khoảng cách đáng kể. Mong những trang sách sẽ mở rộng thêm và vun đắp ước mơ, khát vọng cho ngày mai núi rừng sẽ bớt heo hút, đói nghèo…

Nguyễn Việt

Các tình nguyện viên cắt tóc, sửa móng tay cho học sinh người Cơ Tu