BHALÊÊ – ĐẠI NGÀN GIỤC BƯỚC Bài 1: Người Cơ Tu bên sông Chơr Lang

Quá giờ hẹn đã lâu, mấy anh em chờ dài cổ cả tiếng mới thấy Trung “Đào” và Trần Phong đánh xe tới đón. Lý do của Trung quá dễ thương: “Hứa chở anh bằng xe jeep, mà nắng quá, 120 km chớ ít đâu, mui trần cực lắm. Em vòng qua đổi chiếc 5 chỗ có máy lạnh, nên tới trễ.”

Sao trách nổi! Nhất là khi mới gặp lần đầu, và “tài xế tình nguyện” lại quá nổi tiếng với biệt danh “Trung nhặt rác”. Tên đầy đủ là Đào Đặng Công Trung, chức danh là giám đốc một công ty du lịch, nhưng ngót chục năm qua Trung “Đào” hì hụi mò mẫm gom rác ở khu vực bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Rảnh lúc nào là đi quơ rác, không chỉ lượm rác bên đường mà moi cả rác trong rừng, rồi tuần nào cũng dành 1 tiếng lặn vớt rác dưới đáy biển. Du khách theo tour của Trung cũng “bị” huy động nhặt rác ở biển.

“Rác lượm về, em phân loại, bán vỏ chai lấy tiền làm từ thiện. Làm sạch môi trường mà lại có quà tặng bà con nghèo, mắc gì mà không làm chớ!” – Trung cười hề hề. Thảo nào, nghe có nhóm thiện nguyện lên Tây Giang, lập tức Trung “Đào” đòi “tháp tùng”.

Mấy huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam như Tây Giang, Nam Trà My… hầu như xã nào Trung cũng đã đặt chân. “Thâm niên từ thiện” cả chục năm rồi mà, rành đường hơn thổ địa. Duy có cái tên xã Bhalêê, dẫu đã ghé mấy lần, Trung vẫn “đọc không nổi”, vừa lạ vừa trúc trắc quá.

Khôi phục lễ hội truyền thống Cơ Tu ở Tây Giang

Địa danh Bhalêê có xuất xứ từ nước bạn Lào, vốn là một cụm bản của người Cơ Tu, sống nơi rừng sâu núi thẳm. Thời chiến tranh, dân các bản phải chạy nay đây mai đó để tránh bom Mỹ rải thảm, do đường mòn Hồ Chí Minh hồi đó sát biên giới, có đoạn vòng sang đất Lào. Bom thả chỗ này thì chạy chỗ khác, rừng núi bạt ngàn, biết đâu là biên giới.

Năm 1977, khi Hiệp định phân chia biên giới Việt – Lào được ký kết, một số bản Cơ Tu gốc Lào đã có nhiều năm định cư ở lãnh thổ Việt Nam. Ở lâu quen rồi, đã thành “nhà mình”, chẳng muốn chuyển nữa. Lúc đạn nổ bom rơi lại được người dân bản địa đùm bọc, giúp đỡ, cùng người Cơ Tu cả, nên càng gắn bó với “quê mới”. Không những “ở lại”, nhiều người trong số này còn trở thành cán bộ của xã, của huyện nữa, và họ vẫn giữ tập tục truyền thống, nét đẹp văn hóa của tổ tiên.

Một dạo, nghe nói huyện Tây Giang kiến nghị đổi tên xã Bhalêê thành xã Azứt, nhưng rồi cái tên Bhalêê vẫn tồn tại tới giờ. Có lẽ bởi người Cơ Tu quen gọi vậy rồi, với lại còn quá nhiều việc thiết thực hơn cần phải lo hơn.

Tỉnh Quảng Nam có 66 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, thì Bhalêê nằm trong tốp khó nhất. Nếu như ở Tây Giang, rừng tự nhiên chiếm gần 70% tổng diện tích toàn huyện, thì chắc độ che phủ của rừng tại xã Bhalêê phải trên 90%. Rừng núi như bức trường thành trùng điệp, ngăn cách với bên ngoài. Nhiều thế hệ người Cơ Tu ở đây, cho tới vài chục năm trước, vẫn chưa lần nào thấy đường ôtô, chưa được nghe rađio, ít khi gặp được khách miền xuôi.

Bình minh mờ sương ở thôn Tà Làng, xã Bhalêê

Cái nghèo khổ của cuộc sống tự cấp tự túc chốn làm sơn chướng khí như một “lẽ tất yếu” đối với những bản làng Cơ Tu một thời xơ xác bên sông Chơr Lang. Có người gọi đây là sông “Che Long”, một phụ lưu trong hệ thống sông Thu Bồn. Dòng sông nhỏ “nội xã” chỉ dài hơn 21 km, bắt nguồn từ dãy núi phía bắc xã Bhalêê, chảy qua các làng A Tép, R’Cung, rồi đổ vào sông A Vương tại làng A Dích.

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, non sông liền một dải rồi, nhưng muốn lên những xã vùng cao của huyện Tây Giang như xã Bhalêê, xã A Vương… vẫn phải cuốc bộ xuyên rừng 3 – 4 ngày. Giờ đường nhựa đã thông, từ Đà Nẵng lên xã Bhalêê chỉ mất 3 tiếng chạy xe, nhưng gian khó chưa hết.

Liên tục vần vô-lăng trên những con dốc ngoằn ngoèo bất tận, Trung “Đào” vừa cảm thán: “Mùa mưa đường này mấy chỗ bị cắt đó anh, nước đổ ngang mấy cái đập tràn có khi sâu 1,8 mét, chẳng xe nào qua nổi. Năm trước, núi sạt cả vệt, lấp mấy cây số đường nhựa, cô lập cả xã suốt hơn tháng trời. Nhiều nhà hết gạo, thiếu đói, mà lương thực cứu trợ chuyển lên phải “tăng bo” vác từng bao trèo qua đống đất đá. Bà con trên này cực lắm!”.

Ngó trời vừa nắng gắt bỗng chuyển mây mù, nói dại, nhỡ dính mưa lớn, sạt lở giữa đường núi vắng ngắt này, dám mình cũng đói vàng mắt không chừng(!) Anh bạn đồng nghiệp báo chí Trần Phong – người kết nối nhóm thiện nguyện với Trung “Đào” – nãy giờ ngáy ngon lành trên xe, dụi mắt khoát tay: “Khỏi lo ông ơi! Đi cùng tui thì nằm rừng suốt tuần vẫn cơm no rượu say”.

Tò mò mở cái thùng xốp to đùng của Phong. Ái chà, đủ cả gạo, rượu, mắm, rau cải, cá tươi ướp gia vị, mì gói, đồ hộp… thêm 2 cái nồi gang. Thì ra “thủ phạm” muộn giờ là Phong chứ không phải Trung, ngần đó thực phẩm tươi chắc xếp đồ lâu phải biết! Tha hồ nằm rừng cả tuần thật, ngả đâu là nổi lửa làm bữa được ngay.

Mà 2 ông bạn này chuyên nằm rừng cũng đúng thôi. Ngoài “nghề riêng”, Phong và Trung “hợp cạ” chung đam mê chụp ảnh chim rừng. Ôm cái máy ảnh có ống kính dài thậm thượt như nòng súng cối, ngồi trong bụi rình chim chẳng biết giờ nào nó chịu bay về cho mà chụp, không gạo mắm sẵn sàng có mà hết hơi.

Đôi vợ chồng Cơ Tu rửa thóc bên dòng Chơr Lang

Gã Trần Phong ngó lù đù, thường ngày ham “đánh đấm” chống tiêu cực, mở miệng là “đệm” chửi thề, tưởng khó gần, ai dè tâm lý và chu đáo ra trò. Gã khoái chí mở giọng Quảng Nam đặc sệt: “Mình đi thiện nguyện càng không nên phiền địa phương lo ăn uống, kỳ lắm. Lát tui làm đầu bếp phục vụ mấy ông. Cá kho của tui đảm bảo không kém nhà hàng, còn cơm nồi gang thì ra quán cũng không kiếm nổi đâu à nghe! Tui mang cả rượu nữa, tối xả láng, trừ khi ông khoái rượu cây của người Cơ Tu”.

Xã Bhalêê, “thủ phủ” của các loại “rượu cây” như tr’đin (cây đủng đỉnh), t’vạc (cây đoát), adương (cây song mây). Người Cơ Tu từ xưa đã biết dùng dao, rựa đục vào thân những cây này, hứng nước chảy vào ống lồ ô, rồi lấy vỏ apăng (cây chuồn) phơi khô ngâm vào, dung dịch sẽ lên men. Trong đó, rượu tr’đin quý nhất, 1 cây có thể cho vài lít mỗi ngày. Họ gọi là “rượu của Yàng” (Trời) ban cho, để đàn ông thêm sức khỏe, leo núi trèo cây như con sóc rừng; để con gái da dẻ mịn màng, xinh đẹp. Nhiều gia đình Cơ Tu còn mang cây tr’đin từ rừng về trồng ở vườn nhà.

Ngó chừng khách có vẻ không “hảo rượu”, 2 ông bạn Quảng Nam lắc đầu “thương tình” đùa rằng: “Vậy ông lên bản Cơ Tu mà đi sim nhé, không thì biết làm gì cho hết đêm rừng”.

Giỡn vậy, chớ vụ đi sim là văn hóa đàng hoàng đấy. Ngày xưa, so với các dân tộc thiểu số anh em khác, người Cơ Tu lập gia đình hơi muộn. Khoảng 30 tuổi vợ chồng mới làm lễ ăn giùm (động phòng). Trước đó thì trai gái Cơ Tu thường đi sim, hẹn nhau ra bờ sông Chơr Lang thơ mộng, hoặc lên chòi canh nương, đàn hát tâm sự thâu đêm.

Việc này được cha mẹ đôi bên ủng hộ. Thậm chí, những chàng trai Cơ Tu may mắn còn được gia đình người yêu mời đến nhà uống rượu trước khi đi sim với con gái mình. Song chớ dại mà “vượt rào” đòi “ăn kem trước cổng”. Làng sẽ phạt nặng, phải lo đủ heo trắng, dê trắng, trâu trắng làm lễ xin xá tội. Chưa cưới mà lỡ dính bầu, phải sinh con trong rừng, đến khi đứa trẻ tròn 6 tháng mới được về nhà.

Trung “Đào” lại đùa: “Đó là ngày xưa, còn giờ nếu “trót lỡ” thì chỉ chịu phạt ché rượu với con gà thôi, hay con dê là được. Anh chịu không?!”. Tò mò lên bản hỏi người già có đúng vậy không, chỉ thấy cười không vui. Giờ khác xưa lắm rồi, thanh niên mạng muội chát chít suốt, chẳng mấy người đi sim nữa, cưới hỏi cũng học theo kiểu miền xuôi. Cũng có cái hay, bởi ngày trước, con trai Cơ Tu lấy vợ phải cho nhà gái nhiều của cải, cậu nào nghèo thì rất khó lấy được vợ. Nay khỏi lo vụ “của hồi môn”, cũng đỡ, nhưng mai một mất tục đi sim, thấy tiêng tiếc thế nào…

Một em bé Cơ Tu trong làn nước mát Chơr Lang

Mải “chém gió”, xe đã đến cầu Tà Làng. Dòng Chơr Lang hiền hòa xuôi dưới gầm cầu, soi bóng vườn cây với những mái nhà sàn truyền thống. Đây là điểm du lịch sinh thái cộng đồng đầu tiên được xây dựng ở tỉnh Quảng Nam, như một cách bảo tồn và quảng bá văn hóa Cơ Tu.

Du khách đến Tà Làng sẽ được chào đón bằng lễ cầu an và nghi thức nhập làng trang trọng, được ở nhà sàn, được xem chế tác và trình diễn aheen (sáo 3 lỗ), abel (đàn cò) – các nhạc cụ do nghệ nhân Alăng Avel – người con nổi tiếng của xã Bhalêê, sáng chế. Các trò chơi dân gian như đi cà kheo, ném vòng mây, giã gạo, bắn ná, bắt cá bằng vợt… được tái dựng khá hấp dẫn.

Những người ưa trải nghiệm nhiều hơn có thể xuống bè tre xuôi dòng Chơr Lang, thăm thác R’Cung, trekking 12 km đường Hồ Chí Minh cũ (đã được công nhận Di tích Lịch sử quốc gia đặc biệt), thăm địa đạo Axoò… Tiếp đó là lên đỉnh Quế – được ví như Sapa thu nhỏ, mát mẻ quanh năm; hoặc ngắm mây bồng bềnh bên rừng đỗ quyên cổ trên đỉnh Arung ở độ cao 2005 mét.

Nếu thích, khách có thể cùng dân làng lên rừng hái rau, bẻ măng, xuống suối bắt tôm cá, rồi tự tay chế biến và thưởng thức bánh sừng trâu, cơm lam, gà nướng ống tre, rau rừng… Món ăn truyền thống Cơ Tu mang hương vị độc đáo nhờ một loại gia vị quý: hạt tiêu rừng. Cây tiêu mọc trong rừng sâu, thân gỗ cao khoảng 10 – 15 m, một cây hàng năm cho tới trên dưới chục kg hạt. Tháng 9, 10 là mùa hái tiêu rừng, nhà nào cũng trữ hạt tiêu trên gác bếp, dùng dần để ướp thịt cá hoặc giã cùng muối chấm. Bhalêê nổi tiếng với món zrúa (thịt heo muối chua) ướp tiêu rừng…

Phát triển du lịch để cải thiện đời sống người Cơ Tu, nhưng giữ bản sắc là vấn đề sống còn – chủ trương này của huyện Tây Giang đang được hiện thực hóa ở Bhalêê. Như anh Arất Blúi – Phó chủ tịch UBND huyện Tây Giang – nhấn mạnh: “Rừng còn Tây Giang phát triển bền vững, rừng mất Tây Giang suy vong”. Những khu rừng nguyên sinh đang được bà con Cơ Tu giữ gìn cẩn thận.

Giờ tan học, qua cầu treo về bản

Bên dòng Chơr Lang, còn nhiều cây quý hiếm như lim xanh, thông đỏ, dổi… Đặc biệt, khu rừng di sản pơmu có trên 2.011 cây. Trong đó, 725 cây được công nhận là cây di sản Việt Nam.

Đối với người Cơ Tu, rừng là một đấng linh thiêng, là nguồn sống. Lễ hội tạ ơn rừng thường được làng tổ chức hàng năm vào tháng Giêng. Dịp này, các già làng thường mặc bộ áo làm từ vỏ cây, gợi nhớ truyền thống và cũng nhắc nhở một thời gian khó đã được rừng bao bọc.

Các cây vỏ dày, nhiều nhựa, được chọn để làm áo. Họ dùng chày đập vào vỏ cây từ ngọn xuống gốc cho mềm, bong ra từ từ. Vỏ cây mang về, nướng cho dẻo, bỏ lớp vỏ ngoài, giữ lại lớp “da” mỏng bên trong, tiếp tục dùng chày gỗ đập cho mỏng và tơi ra rồi khâu lại. Chiếc áo vỏ cây còn được ngâm trong nước lá để chống mốc, chống mọt…

Chiếc áo gắn với một thời cơ cực của người Cơ Tu, giờ góp phần làm nên nét độc đáo cho sản phẩm du lịch cộng đồng tại Bhalêê, như một ví dụ về thay đổi mà không quên gốc, như dòng Chơr Lang xuôi về sông lớn mang theo cả bóng núi rừng. Chặng đường phía trước còn dài lắm, nhưng ít nhiều đã rộng mở hơn, để khép lại quá khứ nghèo nàn lạc hậu từng bao đời đeo bám bản làng…

Nguyễn Việt

Phụ nữ Cơ Tu múa hát mừng lúa mới