Bè cá lăng bên bến đò Phú Hậu

Nghề nuôi cá lồng, nuôi cá trong lưới vây đã từ lâu quen thuộc với người Hà Nam. Trước đây người ta chủ yếu nuôi cá trên sông Đáy, sông Châu, nơi dòng chảy hiền hòa, và cũng chỉ nuôi các loại cá “bình dân” như trắm, trôi, mè, rô phi… Nhưng gần đây, những bè nuôi cá lăng đặc sản đang không ngừng được mở rộng trên dòng sông Hồng mênh mang gần bến đò Phú Hậu (xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), mở ra hướng làm ăn mới, táo bạo nhưng đầy tiềm năng.

Anh Trần Trọng Sản, như được giới thiệu trước một cách hóm hỉnh, là một “Paparazzi của huyện Lý Nhân”, thâm niên cầm máy ảnh cũng đến ngót nghét hai chục năm. Với hình dung mơ hồ về nét lãng tử của một “tay săn ảnh”, hơi bất ngờ khi sau cái bắt tay xuề xòa đậm chất “Hai Lúa”, anh kéo khách xuống bè cá, bước thoăn thoắt qua những thanh gỗ dập dềnh trên phao, như một ngư phủ thực thụ.

Anh Sản cho biết, nghề nuôi thủy sản trên sông Đáy, sông Châu trước thời điểm năm 2005 khá phát triển, tuy nhiên những năm sau đó hai con sông từng rất thơ mộng này lại thường xuyên bị ô nhiễm, khiến cả cá sông lẫn cá nuôi chết hàng loạt, nhiều người phải bỏ nghề. Một số hộ gắng gượng cầm cự, tiếp tục vay vốn ngân hàng để nuôi cá lồng, nuôi cá lưới vây, với hy vọng chuyện ô nhiễm chỉ là “nhất thời”. Nhưng đến hồi tháng 10/2013, hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt nước Châu Giang, phần lớn các hộ nuôi bị phá sản, không nuôi thả được nữa.

Anh Trần Văn Võ kiểm tra cá lăng mới tách đàn

Còn trên sông Hồng, từ bao đời nay người Hà Nam chẳng ai dám nghĩ đến chuyện nuôi cá, dẫu cho dòng nước nặng phù sa ấy có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao, các yếu tố thủy hóa đều rất thích hợp cho cá tôm sinh trưởng, phát triển. Nguyên nhân là dòng chảy sông Hồng rất mạnh, mùa cạn nước đã khá xiết, mùa mưa lũ thì sóng dữ cuồn cuộn, chẳng lồng bè nào chịu nổi…

Anh Sản kể: “Những năm gần đây, do người ta xây nhiều đập thủy điện phía thượng lưu sông Hồng nên dòng chảy đã chậm hơn nhiều, vào mùa mưa lũ cũng không dữ dằn như trước nữa. Thế nên mình mới dám học theo ông Võ đầu tư làm lồng nuôi cá lăng – ông ấy đi tiên phong làm được việc chưa ai dám làm ở đây đấy!”.

Anh Trần Văn Võ sinh năm 1962, quê gốc ở huyện Lý Nhân, nhưng như anh tự bạch, cả đời chỉ biết khoác áo lính, phục vụ trong Quân chủng Phòng không – Không quân “mới có 35 năm thôi”. Xuất ngũ về quê với vợ và 3 con trai, ruộng đất không có, phải mày mò kiếm cách mưu sinh. Một lần lên Lai Châu thăm bạn, anh Võ được giới thiệu mô hình nuôi cá lăng.

Cá lăng được xếp vào tốp đầu danh sách đặc sản cá nước ngọt (cùng với cá anh vũ, cá chiên, cá dầm xanh và cá bỗng), bị săn lùng ráo riết nên ngày càng hiếm gặp trong tự nhiên. Rất nhiều nơi người ta mở quán chưng biển bán cá lăng, nhưng kỳ thực phần lớn đó là cá nhập từ Trung Quốc, chất lượng thua xa cá lăng Việt Nam.

Vừa mạnh dạn tìm hướng thoát nghèo vừa ấp ủ mong muốn cung cấp cho thị trường một món đặc sản “thuần chủng”, anh Võ quyết tâm về thu xếp rồi quay lại Lai Châu mua cá giống và học cách nuôi cá ở nước chảy. Thực tế, tại nhiều nơi trong nước, bà con nông dân đã thành công với hình thức nuôi bán thâm canh hoặc thâm canh cá lăng trong ao hoặc trong bè. Do “xuất thân” là cá sông, nên nếu nuôi trong bè cá lăng sẽ lớn nhanh hơn nuôi ao, và bè cũng cho phép nuôi với mật độ dày hơn. Cụ thể, nếu nuôi trong ao bán thâm canh thì mỗi m2 chỉ thả 4-5 con (cá lăng chiếm 20-30% tổng số cá thả), nuôi thâm canh cũng chỉ được 6-8 con/m2. Còn nuôi trong bè, có thể thả cá lăng với mật độ 60-70 con/m3.

Lứa cá lăng giống đầu tiên được anh Võ chọn rất kỹ: cá còn nguyên nhớt, đuôi và râu tươi màu, cỡ đồng đều, mua với giá 6.000 đồng/con, đã cùng anh lên xe chuyên dụng vượt gần 600 km từ vùng biên về đến xã Phú Phúc. Những bè nuôi cá lăng đầu tiên của tỉnh Hà Nam được anh Võ, anh Sỹ (anh rể anh Võ) và gia đình dựng lên bên bến đò Phú Hậu, nơi có dòng chảy vừa phải, tương tự những đoạn sông cá lăng thường sinh sống.

Ngày thu hoạch lứa cá lăng đầu tiên

Anh Võ cười chất phác: “Anh em tôi là Võ – Sỹ thật, nhưng không đánh nhau với ai, mà chỉ thử nghiệm cái “võ” mới trên sông Hồng với mong muốn phát triển kinh tế”…

Chuyện năm cũ thôi mà đã như xa lắc, bởi lúc ấy từ bà con làng xóm cho tới những người buôn bán hàng ngày qua lại bến đò Phú Hậu nối huyện Lý Nhân của tỉnh Hà Nam với huyện Hưng Hà của tỉnh Thái Bình, chẳng ai dám tin việc nuôi cá lăng ở đây sẽ thành công. Nhất là trong cơn bão số 8 năm 2013, sông Hồng cuộn sóng mịt mờ, có lúc sóng trùm tới mái căn nhà canh cá dựng trên bè.

Anh Võ nhớ lại: “Lúc ấy cả làng đã chắc mẩm chắc anh em mình phải trắng tay, đến mình cũng tưởng công sức và vốn liếng trôi theo dòng nước. Nhưng hóa ra lũ cá biết trốn bão, lúc sóng to gió lớn chúng lặn cả xuống đáy lưới quây, nên không bị cuốn đi”.

Cũng nhờ tác phong người lính, làm gì cũng chu toàn, khu lồng bè được anh Võ bố trí rất chắc chắn, đã chiến thắng bão lũ mà không bị hư hỏng nặng. Nhà bè lắp ghép bằng khung thép kiên cố, cùng loại với hệ thống khung thép làm lồng nuôi cá. Anh Võ làm hệ thống neo cực chắc, dùng cả thuyền cũ, đổ cát vàng xi măng rồi đánh đắm làm trụ neo dưới đáy sông. Dây chão neo bè là loại dây buộc tàu biển ở các cảng, khó lòng đứt nổi dù bão lớn…

Hết thiên tai lại đến “nhân họa”. Các bãi bồi ven sông người ta trồng rất nhiều ngô, thu hoạch bẻ bắp xong rồi, nhiều khi họ vứt luôn thân và lá xuống sông. Thân ngô cuốn vào đáy lồng nhiều đến mức có hôm làm đội lồng cá lên đến gần 1m, suýt lật. Cả nhà anh Võ phải lặn xuống, hì hục gỡ đám “rác nhân tạo” này…

Khi mới thả nuôi, cả nhà thấp thỏm theo dõi liên tục để nếu phát hiện cá mắc bệnh là xử lý lập tức, lo nhất là bệnh thối mang thường khiến cá chết rất nhanh. Được cái, cá lăng chỉ “yếu ớt” lúc mới nở, sau khi đạt 3 tháng tuổi thì có thể yên tâm, hầu như không còn cá chết, hiện tỷ lệ hao hụt cá tính từ lúc thả nuôi đến khi xuất bán chỉ khoảng 10%.

Cá lăng thương phẩm

Nuôi được tròn 1 năm, anh Võ bán lứa cá lăng đầu tiên cho một người mua về nuôi vỗ. Mặc dù thời gian này được anh xác định là thử nghiệm, nhưng tính ra vẫn có lãi. Giá cá lăng mua tại bè của anh Võ hiện là 120.000 đồng/kg, đó là do cá chưa to lắm, mới đạt khoảng 0,7 kg/con. Như anh tính toán, nuôi thêm 1 năm nữa, cá lăng sẽ đạt tầm 2 đến 2,5 kg/con, thì giá bán sẽ từ 200 – 250 nghìn đồng/kg. Tín hiệu vui nhất là môi trường phù hợp nên cá lăng nuôi trên sông Hồng tại Phú Phúc không chỉ phát triển ổn định mà chất lượng thịt cũng được đánh giá khá cao.

Anh Võ tâm sự: “Hiện chủ yếu tôi mới bán cá giống, cũng là cách lấy ngắn nuôi dài. Với số lượng đã lên đến 110.000 con, nếu nuôi cả thì khi cá lớn, mỗi ngày phải có 20 triệu đồng tiền thức ăn đổ xuống lồng bè, tức là phải trường vốn lắm, mà nông dân thì không thể có nhiều vốn thế. Nên tôi phải tính toán để trong bè lúc nào cũng có cá thịt, “túc tắc” xuất bán cho khách để có thu nhập thường xuyên, và nhất là có tiền đầu tư cho hệ thống nhà bè, lồng nuôi, thức ăn và đàn cá”.

Khu bè nuôi cá của anh Võ hiện đã mở rộng được hơn 20 ô lồng. Anh rất nhiệt tình hướng dẫn, động viên các hộ gia đình trong khu vực muốn học theo nghề nuôi cá lăng trên sông Hồng, sẵn sàng phổ biến các kinh nghiệm tích lũy được sau một thời gian vất vả “đi tiên phong”: Thời gian thả cá giống tốt nhất từ 8 – 11 giờ sáng. Trước khi thả nên sát trùng bằng muối ăn (tỷ lệ 1 muỗng canh muối pha 1 lít nước) hoặc BKS, Sanmolt F theo liều hướng dẫn, để phòng bệnh cho cá.

Cá lăng bé được cho ăn cám công nghiệp, thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%. Đến khi trọng lượng đạt hơn 4 lạng/con thì cho ăn cá tạp cắt khúc vừa cỡ miệng. Có thể tự chế thức ăn cho cá lăng theo tỷ lệ 50% cám + 50% cá tạp, hoặc mua lòng lợn về băm nhỏ nấu lên… Cá lăng ăn mạnh lúc sáng sớm và chiều tối, cần thường xuyên theo dõi hoạt động ăn mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ. Nên treo túi vôi ở đầu bè để phòng bệnh và thường xuyên khử trùng bè…

Anh Võ đoan chắc: Nuôi cá lăng trên sông Hồng sẽ cho hiệu quả hơn nhiều so với nuôi các loại cá truyền thống khác, như: trắm, chép, mè, trôi… Môi trường nước chảy rất thích hợp thả cá với mật độ dày, mỗi ô lồng của anh hiện đều trên 1 tấn cá.

Nhà bè của anh Võ thu hút cả những tay khoái câu sông, cuối tuần tụ tập. Khúc sông này khá nhiều cá chày, cá chép, chúng thường xúm lại kiếm thức ăn “lọt lưới”, lắm con mải ăn tới mức có thể dùng vợt mà xúc. Anh Võ mời cả hội câu uống rượu với mớ cá chép sông vừa bắt được, mấy con nặng trên 2 kg. Ông chủ bè hiếu khách hứa chắc nịch: “Lần tới các chú về mình sẽ nhắm cá lăng trên 1 kg/con”…

Khu bè nuôi cá lăng ở Phú Hậu

Sông Hồng mùa cạn dòng chảy hiền hòa, bến Phú Hậu vắng vẻ vốn chỉ có tiếng con đò máy cần mẫn đưa khách qua lại đôi bờ, tiếng máy hút cát từ mấy sà lan phía xa… nhưng đã thấp thoáng những tín hiệu về một ngày không xa bến sông sẽ sầm uất hơn, khi những khung thép và ô lưới quây nuôi cá lăng đang từng ngày mở rộng.

Như ông Phạm Anh Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi – Thủy sản Hà Nam đã nhận định: Do đặc tính nước chảy, giàu ô xy và dinh dưỡng nên nuôi cá lồng, nuôi cá lưới vây cho năng suất, sản lượng cao. Năng suất nuôi cá lồng trung bình từ 25-30 kg/m3, năng suất nuôi cá lưới vây đạt 10-15 tấn/ha, cao gấp nhiều lần so với nuôi cá nước tĩnh trong ao. Mặt khác nuôi cá lồng, đặc biệt là nuôi cá lưới vây còn tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên vốn rất phong phú tại các sông.

Việc cần làm của các cơ quan chức năng là nghiên cứu kỹ hơn về quy trình công nghệ, đối tượng, thời vụ nuôi. Đặc biệt, cần phải có đề án cụ thể để xác định mục tiêu, năng suất, sản lượng, số lượng lồng nuôi cho từng giai đoạn, cũng như các cơ chế, chính sách hỗ trợ, trên cơ sở khảo sát, quy hoạch địa điểm, vị trí phù hợp, không ảnh hưởng đến giao thông, thủy lợi và các tác động khác đến môi trường, dân sinh. Có như vậy, nghề nuôi cá lồng trên sông Hồng mới phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế cao và mở ra hướng đi mới cho phát triển nuôi trồng thủy sản của Hà Nam.

Nguyễn Việt