Bắt cá giữa rừng Pù Mát

Sông Giăng không hiển thị trên bất cứ tấm bản đồ nào, kể cả Google Maps. Dòng sông nhỏ gập ghềnh uốn lượn giữa rừng nguyên sinh đã gắn bó bao đời cùng người Đan Lai như một định mệnh vừa nghiệt ngã vừa bao dung. Từ thuở xa xưa truyền thuyết “xuống sông phải rẽ cá mà lội”, đến nay bắt được mớ cá nhỏ cũng phải nhọc nhằn, tộc người độc đáo với tục “ngủ ngồi” vẫn chẳng nỡ rời bỏ rừng Pù Mát bạt ngàn đã nhiều thế kỷ nuôi dưỡng họ.

img_6945

Thuyền máy ngược dòng vào bản Cò Phạt phải vượt 147 ghềnh thác

Quăng chài trên sông Giăng

“Tiếng đồn cá mát sông Giăng 
Dẻo cơm Mường Quạ, ngon măng chợ Cồn”

Trong 3 đặc sản đã đi vào ca dao miền Tây xứ Nghệ, ngoài những đọt măng rừng giòn ngọt bán ở chợ Cồn (xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương), 2 món còn lại đều gắn với người dân tộc Đan Lai ở huyện Con Cuông. Theo truyền thuyết, trong hành trình trốn tránh sự truy sát của quan quân thời Lê – Mạc, những người con họ Lê đã bỏ làng cũ Đan Nhiệm, đi mãi vào chốn thâm sơn cùng cốc, tới thượng nguồn sông Giăng.

Nơi ấy, cá nhiều đến nỗi người lội qua sông phải rẽ cá mà đi, ven sông bãi đất màu mỡ, chim chóc tụ về làm tổ trĩu cả cành lá, nhiều nhất là quạ. Họ lập làng, gọi là Mường Quạ, đổi họ Lê sang họ La, tự gọi mình là tộc Đan Lai với chữ Đan gợi nhớ làng cũ và chữ Lai ngụ ý phải thay đổi để thích nghi, sinh sống bằng trồng lúa và săn bắt hái lượm.

Mường Quạ nổi tiếng với xôi nếp Khầu Cú Páng (lúa nếp vàng), chỉ nấu với nước nguồn mà óng ánh như trộn mỡ gà thơm ngào ngạt. Cá mát bắt dưới sông Giăng, chiên vàng, ăn kèm xôi Khầu Cú Páng, được xem là món ngon đệ nhất xứ này.

“Nghe danh” cá mát từ lâu, nên khi có dịp đặt chân đến xã Môn Sơn (huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An), tôi lập tức “mò” ra sông Giăng nằn nì mấy tay chài lưới cho theo đi bắt cá. Đồng ý dẫn tôi xuống thuyền, nhưng cậu dân chài tên La Văn Năm, người Đan Lai “thổ địa”, vẫn khề khà cùng đám bạn bên ấm nước lá, bắn thêm mấy bi thuốc lào rồi mới đủng đỉnh nhổ sào. Ngó vẻ sốt ruột của tôi bởi nắng chiều đã nhạt, Năm cười hiền lành: “Giờ ni cá chưa ra mô anh, tới chừng nhá nhem hắn mới kéo đàn đi kiếm ăn. Mình thong thả về lều lấy đồ vẫn kịp”.

Từ đập Phà Lài, chúng tôi ngược dòng sông Giăng chừng 30 phút thì tới lều của Năm dựng cách mép nước vài mét. Theo tiếng dân tộc, Phà nghĩa là trời, Lài là hoa, Phà Lài có nghĩa là “hoa của trời”. Đây là công trình thuỷ lợi lớn nhất huyện Con Cuông, được xây dựng để điều tiết dòng nước hung dữ của sông Giăng. Con sông không có trên bản đồ này bắt nguồn từ khe Khẳng giữa rừng sâu Pù Mát, gần biên giới Việt – Lào, chảy vòng vèo hơn 100 km uốn lượn dưới tán rừng hoang sơ trước khi gặp sông Lam tại huyện Thanh Chương.

img_6949

Người Đan Lai dựng lều giữa rừng, bám sông Giăng để bắt cá

Căn lều của Năm thông thống, chỉ gồm những cành cây xếp đan vào nhau, trên phủ lá rừng tạm che mưa nắng. Năm bảo, từ đây về bản nếu đi xuồng máy ngược dòng phải mất 2 tiếng nữa, ấy là mùa này sông cạn, chứ mùa lũ thì có khi thuyền chèo tay như của Năm mất cả ngày chưa chắc đã đến nhà. Vậy nên người Đan Lai đi đánh bắt cá phải mang theo lương thực và vật dụng cần thiết, cắm lều gần những khúc sông nhiều cá để thả lưới, quăng chài. Mỗi lều 1 – 2 người, cả tuần cả tháng sống như thuở hồng hoang giữa rừng già thăm thẳm, lúc nào thấy vãn cá thì lại nhổ lều tìm đến khúc sông khác. Họ bám sông cũng để tiện bán cá cho những người vào rừng khai thác lâm thổ sản, hoặc nếu được nhiều thì mang về bến Phà Lài đổ mối cho dân buôn chuyển về xuôi…

Khi sương chiều buông lạnh buốt, chúng tôi mới dong thuyền đến một ghềnh nước tung bọt trắng. Dòng nước ở khúc sông hình chữ U này chia làm hai, một nửa réo ào ào qua những tảng đá trơn nhẫy, tạo ra “khoảng lặng” cho nửa bên kia nước trôi lừ đừ đưa đẩy dưới tán cổ thụ rậm rì. “Hắn nhảy rồi đó anh” – theo tay Năm chỉ, tôi nhìn rõ bầy cá màu bạc tung mình khỏi làn nước xanh biếc trong một vũ điệu kỳ lạ trước khi nắng tắt hẳn trên ghềnh đá. Phía bên nước lặng, những chiếc vây lưng cá chốc chốc lại vạch trên mặt nước những đường gợn lao xao.

Mùa này sông Giăng ít nước, giữa dòng chỉ ngập ngang hông, nhưng lạnh thấu xương, khiến tôi đành co ro trên thuyền trong lúc Năm lội xuống quăng chài. Cá đủ loại và phần lớn đều khá nhỏ, màu trắng bạc, cũng có mấy con trông cổ quái đúng chất “cá rừng”(!). Năm nhặt cho tôi một con cá cỡ ngón chân cái: “Cá mát đây anh”. Con cá thật đẹp, nhỏ mà dày mình chắc nịch, toàn thân vảy nhỏ lấp lánh ánh bạc, phần lưng ngả xanh đen, cái bụng trắng phau, hai bên lườn có vệt vảy màu hồng kéo dài từ mang tới gần đuôi, điểm xuyết vài chấm đen.

Mấy con cá mát được Năm kẹp vào thanh tre, nướng tại trận cho tôi “mở rộng tầm mắt”. Ngồi giữa rừng mà có cá tươi rói nướng thơm lừng, vị ngọt béo đậm đà, ít xương, đến cả cái đầu cũng vừa bùi vừa mềm… tôi chén hết một con rồi mới kịp thắc mắc sao không mổ cá, bỏ ruột? Năm giải thích: Cá mát sống theo đàn, ban ngày núp trong khe đá, đợi hoàng hôn mới kéo đi kiếm ăn. Chúng thích tụ tập gần thác nước chảy xiết, ăn rong rêu bám trên đá, nên ruột cá khá sạch, nếu bắt được cá mát vào lúc chúng vừa rời hang thì ruột cá trắng tinh, cứ việc để nguyên con mà nướng chấm mắm gừng…

Năm cười buồn: “Ngày xưa cá mát bơi đầy sông Giăng, người Ðan Lai còn ăn cá mát thay cơm, đến bữa lùi củ sắn vào bếp rồi ra sông tung chài một cái là lập tức được cá. Giờ thì cá mát ít dần do đánh bắt quá mức, dùng cả thuốc nổ để bắt cá. Hồi trước cá mát cũng to hơn, có con nặng dăm bảy lạng, nay chỉ còn bắt được cá mát cỡ 1 – 2 ngón tay. Được cái là cá mát luôn đắt hàng”.

img_7171

Các loại cá đặc sản của sông Giăng

Quả vậy, quay về bến Phà Lài, mớ cá mát của Năm được bà chủ quán cơm ở đầu bến mua hết ngay với giá 250.000 đồng/kg, chứ không kỳ kèo nhấc lên đặt xuống như khi xem các loại cá khác. Thấy tôi lôi máy ảnh, bà chủ quảng cáo một hơi: “Cá mát lành như cái tên của nó, bổ lắm đó chú! Đàn bà ăn thì lợi sữa, đàn ông dùng khỏi lo bệnh tim mạch(!). Giống ni nấu cách chi cũng ngon lắm, rứa mới có câu ca: “Ngon như cá mát sông Giăng – Đẹp như cô gái bán măng chợ Cồn”…

Vào bản Cò Phạt

Người Đan Lai ở xã Môn Sơn sống tập trung trong bản Cò Phạt và bản Búng, sâu giữa đại ngàn heo hút. Nghe tôi nhờ dẫn lối băng rừng vào bản, anh Lê Thành Đô – cán bộ Phòng Giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái, Vườn quốc gia Pù Mát – điện thoại hỏi tình hình hồi lâu rồi thông báo: “Đường mòn vừa bị sạt anh ạ, phải đi thuyền máy ngược dòng thôi”.

Dòng sông Giăng không chỉ là nơi mưu sinh của người bản địa, mà còn là đường giao thông vào vùng lõi rừng Pù Mát . Anh Đô cho hay, sông có độ dốc trung bình 17.2%, dòng chảy dữ dằn đặc biệt trong mùa lũ. Để vào bản của người Đan Lai, chúng tôi phải vượt 147 thác ghềnh nguy hiểm, đã gây không ít vụ lật thuyền, từng có cả phóng viên thiệt mạng trên đường vào đây tác nghiệp.

Anh lái thuyền tên là Lê Văn Bình trấn an: “Mùa ni nước cạn, không sợ chết đuối mô, chỉ lo phải lội nước đẩy thuyền thôi”. Thuyền máy chạy băng băng hết khúc sông rộng ở hạ lưu rồi luồn lách ngược dòng chảy sâu mãi vào dưới bóng rừng già. Càng vào sâu, rừng càng rậm và sông càng hẹp hơn, quanh co hơn, nhiều chỗ cành lá xòa ra giữa sông cùng những bãi đá lởm chởm.

Người lái thuyền lạng lách còn hơn quái xế đua xe để tránh những tảng đá lổn nhổn chồi lên từ đáy sông do nước rút, mỗi lúc thuyền cua gấp tôi lại thót tim tưởng sắp lao vào vách đá. Cứ vài trăm mét lại phải vượt một cái ghềnh, đáy thuyền gỗ trượt trên đá lục cục giật nảy như chỉ chực vỡ toang, mấy lần chân vịt chém cả vào đá nghe chát chúa.

Đi trên sông luồn rừng, cảnh đẹp như tranh, nhưng đám khách “nghiệp dư” chúng tôi chỉ dám thưởng ngoạn bằng “một mắt” vì còn phải lo bám chặt mạn thuyền, ai cũng thở phào khi kết thúc “2 tiếng đồng hồ cân não”, nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng nổi bật trên tán rừng xanh nơi bến nước bản Cò Phạt. Nhưng người đầu tiên chúng tôi gặp ở bản lại không “xuất xứ” Đan Lai, mà là dân miền xuôi chính hiệu: anh Lưu Văn Cứu – Trưởng phòng Công thương huyện Con Cuông, cũng vào bản công tác.

img_7059

Gia đình Đan Lai nào cũng đông con

Dẫn chúng tôi vào giữa bản, tới căn nhà gạch còn thơm mùi vôi mới, anh Cứu hồ hởi: “Nhà văn hóa của bản đấy anh ạ, được tài trợ vừa xây xong. Nhà gạch ở bản Cò Phạt cũng tựa chuyện trong mơ vậy. Ít năm trước thôi, bà con Đan Lai chủ yếu ăn sắn chứ mấy khi có gạo mà ăn, nên nhà cửa cũng toàn mái tranh xiêu vẹo, khổ lắm”. Rồi anh ngâm nga bài dân ca tự bạch về thân phận tộc người lạc lõng giữa rừng:

“Theo dấu chân nai
Tra vào hạt lúa
Theo dấu chân cọp
Bỏ vào hạt ngô
Lang thang đầu núi
Đìu hiu lưng đèo
Sống đời nghèo khổ
Như dòng suối nhỏ
Như gió rừng chiều…”

Tôi đùa: “Tưởng các bác ở đây toàn ăn lúa đặc sản Khầu Cú Páng, hơn hẳn Hà Nội ăn gì cũng dính thuốc tăng trọng(!)”. Anh Cứu lắc đầu: “Lúa đặc sản năng suất thấp lắm, gạo ngon nhưng ít, mỗi năm được 3 tháng ăn gạo đã là nhiều, còn thì củ sắn, củ mài với măng rừng vẫn là lương thực chính của bà con Đan Lai.”

Anh cho biết, nhiều năm qua, chính quyền và lực lượng Biên phòng, Kiểm lâm đã kiên trì hướng dẫn bà con cách trồng lúa nước, kỹ thuật chăn nuôi gia súc gia cầm. Đến nay, diện tích lúa nước của bản Búng và bản Cò Phạt đã được hơn 20 ha, đồng thời tận dụng 13 ha đất bồi ven sông suối để trồng ngô, đậu, lạc, rau màu; một số hộ đang phát triển nuôi cá ao… Tuy nhiên, khó khăn về lương thực vẫn chưa thể hết, do môi trường sống quá khắc nghiệt.

“Sống tách biệt trong rừng nên cái gì cũng thiếu, số người Đan Lai trình độ trên phổ thông chỉ đếm trên đầu ngón tay.” – anh Cứu kể – “Như ông Linh đây, trước làm Trưởng bản, giờ là Bí thư chi bộ Cò Phạt, vừa “ghi danh vào lịch sử” dân tộc Đan Lai, vì là người đầu tiên của bản được lên máy bay. Lúc cất cánh, ông ấy níu tay tớ, mặt xám ngoét, thều thào: “Phen ni chết chắc! Nếu anh còn sống nhớ đến thắp hương cho tui(!)”.

Bí thư La Văn Linh gày hom hem khắc khổ, nhưng nụ cười thì bẽn lẽn như cậu thiếu niên. Anh thong thả kể những tập tục kỳ lạ của dân tộc mình: “Khởi đầu thì sợ quan quân truy sát, sống trong rừng Pù Mát lại nhiều thú dữ, nên ban đêm người Đan Lai thường đốt đống lửa, ngồi bên than hồng cho đỡ lạnh, tựa vào cây gậy mà ngủ, nghe tiếng động là vùng chạy. Trẻ con mới sinh, người mẹ lập tức nhúng xuống sông, suối, đứa nào vượt qua được rét mướt thì sau này sẽ khỏe mạnh… Bây giờ chỉ còn người già vẫn quen ngủ ngồi, lũ trẻ đã ngủ nằm lâu rồi. Riêng tục nhúng trẻ sơ sinh xuống nước thì nhiều người vẫn làm”.

Nhưng tập tục đem lại nhiều nguy cơ cho người Đan Lai nhất lại là chuyện cưới xin. Nhiều thế kỷ không “giao lưu” với bên ngoài dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết thống. Chuyện con chú lấy con bác trong bản Búng, bản Cò Phạt là quá bình thường, cứ việc đẻ đến hết trứng thì thôi! Người Đan Lai quan niệm con gái 18 tuổi chưa cưới chồng là ế. Chú rể La Văn Mày vừa bước sang tuổi 15 đã kết hôn với cô dâu La Thị Duyên mới 14 tuổi. Cặp vợ chồng La Văn Bốn và La Thị Lợi cưới nhau mấy năm trước khi mới 14 tuổi, nay đã có hai con nhỏ. La Thị Lý cưới chồng khi chưa tròn 14 tuổi, nay chưa đến 20 đã một nách ba đứa con còi cọc…

img_7103

Lũ trẻ bản Cò Phạt

Dù 100% dân bản nghèo đói, nhưng đám cưới tổ chức rất linh đình, ăn uống mấy ngày liên tục. Do tảo hôn nên sau khi cưới vài năm, các cặp vợ chồng mới đủ tuổi đăng ký kết hôn và làm lễ cưới lại, cũng rất tốn kém, thường thì nhà trai nộp cho nhà gái một khoản tiền và một vòng bạc, đôi vòng đồng cùng 4 con gà sống, sau khi sính lễ được nhận lại tổ chức ăn uống. Nếu em lập gia đình trước anh chị thì phải gọi thầy cúng về “kêu vía” để xin phép. Kêu vía cho một người thì phải làm một mâm cỗ. Nhà có ba, bốn người anh chị chưa lập gia đình thì phải kêu vía ba, bốn lần.

Những vòng xoáy luẩn quẩn lạc hậu ấy khiến đói nghèo mãi không dứt được. Có khách đến bản, người Đan Lai bắt con gà đang nhảy ổ định làm thịt, khách giữ ý không chịu thì họ chỉ biết hái rau ngoài vườn, rồi lại ra sông Giăng bắt cá mát.

Họ chế biến cá theo cách phổ biến là bắc chảo phi hành mỡ thơm lừng rồi thả cá vào rán đến khi giòn, mới pha nước mắm tỏi, ớt, hạt tiêu cùng mấy thìa tương Nam Đàn, trút hết vào chảo cá nóng, trộn đều thêm một lúc cho ngấm. Đĩa cá chiên vàng óng nhìn thật hấp dẫn, nhưng thoáng chút ngậm ngùi thế nào, nhất là khi khách biết rằng món cúng tổ tiên những dịp lễ tết của người Đan Lai cũng chỉ đơn sơ như thế:

“Năm hết Tết đến – chúng con chỉ có
Một trành cá mát – Một bát mật ong
Một chén rượu lạt – dâng lên tiên tổ
Phù hộ chúng con – ăn nên làm ra
Con suối lắm cá – cây rừng lắm hoa”…
(Bài cúng Tết dân tộc Ðan Lai)

Nỗi niềm chuyện cá, chuyện người

Trong tác phẩm “Hát với sông Giăng” của Minh Tâm – một nhà giáo quê ở xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chương – có đoạn:
“Trên bản đồ Tổ quốc
Sông Giăng không có tên
Với tình người xứ sở
Sông Giăng không thể quên”…

Cái tình khăng khít với sông Giăng, với rừng Pù Mát, khiến nhiều người Đan Lai, như Nhà giáo ưu tú La Văn Bốn, thầy giáo La Văn Thám, các cô giáo La Thị Hương, La Thị Hằng… dù được hỗ trợ “thoát ly” ra khỏi rừng đi học, xong rồi đều quay về bản truyền chữ cho con em đồng bào. Lũ trẻ Đan Lai đã được cắp sách đến trường, với kỳ vọng thế hệ mới sẽ thay đổi số phận bản nghèo trong tương lai.

img_7160

Một nhà bè trên sông Giăng

Nhưng thói quen sống “gắn bó” với rừng, săn bắt hái lượm, lại khiến công tác tái định cư tại địa phương khá nan giải. Đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ cuối năm 2006, tại Quyết định số 280/2006/QĐ-TTg. Mục tiêu chính của đề án là trong 3 năm (2007 – 2009) tổ chức di chuyển 146 hộ dân người Đan Lai sống trong rừng Pù Mát ra 3 điểm tái định cư ở xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông. Tuy nhiên, sau khi đề án đã “hết hạn” hơn 5 năm, mới chỉ có 42 hộ được chuyển đến khu tái định cư số 1 ở bản Thạch Sơn.

Nơi ở mới giao thông thuận tiện hơn, việc tiếp cận chăm sóc y tế, học hành cũng khá tốt. Mỗi hộ được cấp 1,7 ha đất đồi và 1,5 sào ruộng trồng lúa nước. Tuy nhiên, do phần lớn các hộ đều đông nhân khẩu, nên tình trạng thiếu ăn vẫn thường trực. Ở bản cũ, họ quen sống nhờ săn bắn chim thú, bắt cá sông Giăng, lúc đói chỉ cần vào rừng là kiếm được cái ăn ngay. Còn ở khu tái định cư không có sông để kiếm cá, không săn được thú rừng. Nhiều thanh niên đã bỏ bản, vào miền Nam làm thuê, rất nhiều người khác có ý định trở lại rừng. Người ở trong rừng thấy vậy lại càng ngại ra, chỉ muốn bám chặt lấy sông Giăng để đánh cá. Cá ngày càng ít và khó bắt, một số người vì mưu sinh trước mắt đã chọn cách làm liều.

Anh Phạm Văn Long, nhân viên Kiểm lâm ở bản Cò Phạt, cho biết: Từ năm 2012 đến nay, lực lượng Biên phòng, Kiểm lâm đã phát hiện và xử lý hàng chục vụ đánh cá theo kiểu hủy diệt, tịch thu một số thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm và nhiều bộ kích điện. Lực lượng chức năng phải thường trực “cắm” mỗi bản một tổ, liên tục tuần tra và cùng chính quyền địa phương tuyên truyền về tác hại của việc đánh bắt quá mức dẫn đến tuyệt chủng những loài cá quý hiếm trên sông Giăng. Quyết tâm rất cao, nhưng ai cũng biết, “cuộc chiến” này sẽ còn dai dẳng…

Trời gần trưa chợt ảo mờ mưa bụi, khiến lớp lớp rừng già ken dày ven sông thêm trầm mặc thâm u. Bất giác, tôi nhớ bài thơ “Sông Giăng” anh Lê Thành Đô ở Vườn quốc gia Pù Mát đọc hôm trước, nghe đâu tác giả là một cô giáo cấp III trường huyện:

“Nơi em về mưa kín mặt sông Giăng
Anh ở phố huyễn hoặc mình nắng nhẹ
Sóng ở đáy sông có cồn cào như thế
Anh – hạt phù sa chẳng chảy ngược dòng

Mây vẫn trôi và nắng cũng rất trong
Mọi dòng sông đều trở về với biển
Em nhận ra giữa trăm ngàn bờ bến
Không bến nào bình yên cho em

Nơi em về mưa kín mặt sông Giăng
Sông Giăng mắc một chút gì rất lạ
Anh gom nhặt sợi nắng tàn chiều hạ
Liệu có ấm thêm, cuối nẻo ấy em về…”

Nguyễn Việt

img_7214

Cá mát chiên giòn, món ngon đệ nhất rừng Pù Mát