Bản Cam – đêm không còn liêu trai

Cô giáo Chảo Thị Thủy (áo xanh) nhờ dân bản lấy xe máy chở quà lên núi

Những người tham gia việc thiện nguyện rất giỏi động viên nhau. Các nhà hảo tâm, tài trợ quà tặng vùng cao, thường khen đám “tình nguyện cửu vạn” chúng tôi là “vất vả gieo duyên lành trên núi, bà con cảm ơn lắm”. Còn các tình nguyện viên lại cười toe mà rằng: “Các anh chị phát tâm mới đáng quý. Nhờ “lộc” của các anh chị mà bọn em đến đâu cũng được tươi cười đón chào”.

Tôi thiên về cái “vế sau” này hơn, bởi đã chứng kiến quá nhiều ví dụ. Như chuyến lên bản Cam hôm trước, mấy anh em còn chật vật với “con ngựa sắt” cài số 1 rồ ga khét lẹt ở lưng dốc, đã thấy cô giáo Chảo Thị Thủy chạy bộ từ đỉnh núi xuống đón, tươi rói nụ cười sơn cước. Anh em tếu nhau, lên núi sướng thế đấy, chứ “ở xuôi” làm gì có cô nào chạy ríu chân ra đón mình như vậy(!)

Mà không phải vì có quà mang lên, mình mới được chào đón nhiệt tình đâu nhé. Đầy chuyến balo nhẹ tênh lỡ đường ngang bản vắng, cứ tạt bừa vào một nếp nhà sàn hay một điểm trường cắm bản, thế nào cũng được mời bữa cơm cây nhà lá vườn đúng nghĩa đen, rồi có chỗ ngả lưng qua đêm bên bếp củi ấm sực…

Cuốc bộ lên bản

Nhưng lần này, niềm vui long lanh trong mắt cô giáo trẻ không chỉ vì “khách đến chơi bản”, mà bởi một “sự kiện trọng đại” nữa: từ tối nay, ánh điện sẽ “ở lại” với cô trò điểm trường Bản Cam (thuộc Trường Mầm non Hoa Ban, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai). Được chị Trà My – Chủ tịch Cô Son Charity – gửi gắm, chúng tôi mang lên bản nốt số kinh phí còn lại trong “dự án” tài trợ máy phát điện chạy bằng sức nước, đúng vào lúc việc lắp đặt máy chuẩn bị hoàn tất…

Trước đó, cũng đã đôi lần lớp Mầm non sáng điện, nhưng đó là điện kéo nhờ từ nhà Trưởng bản Chảo Ống Phin – một trong vài nhà hiếm hoi ở bản Cam có máy phát điện cỡ nhỏ lắp ngoài suối. Khi tôi hỏi chuyện, cậu Trưởng bản 30 tuổi cười chất phác: “Thương trẻ con, thương cô giáo lắm! Nhà mình có điện thì cũng muốn trường có điện dùng. Nhưng chỉ đủ tiền mua máy nhỏ thôi, không sáng hết được, hôm nào trường có khách thì để trường sáng điện, nhà mình lại tối”.

Ước mơ có máy phát điện riêng, công suất đủ dùng cho trường và các gia đình lân cận ở bản Cam, đã thành hiện thực, nhờ sự hỗ trợ thiết thực của “Cô Son”…

Mấy tháng trước, khi chúng tôi tổ chức chuyến thiện nguyện đầu tiên lên bản, Cô Son Charity cũng đã ủng hộ kinh phí mua chăn màn, và tặng bánh kẹo cho cả bản. Bữa đó, theo chân đoàn thiện nguyện, cô giáo Chảo Thị Thủy lên bản Cam lần đầu. Theo phân công của nhà trường, từ năm học 2018 – 2019, cô thế chỗ cho cô giáo Nguyễn Thị Liên vừa hoàn tất “nhiệm kỳ” cắm bản. Thủy có vẻ lo lắng, dù bước chân vẫn rắn rỏi ngược lên dốc núi đầy bùn đất, đôi chỗ sạt lở sau những cơn mưa dai dẳng cuối hè.

Những em bé người Dao ở bản Cam

Bản có vài chiếc xe máy cũ, trông như đống sắt vụn trơ xương, tận dụng hết để thồ quà lên núi. Cô giáo Nguyễn Thị Thu Hường – phụ trách điểm trường và đã mấy năm gắn bó cùng bản Cam, dẫn chúng tôi cuốc bộ hơn 4 km, qua mấy ngọn núi, mới lên tới bản. Hường kể vắn tắt: Gia Phú là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Hiện trên địa bàn xã Gia Phú có 11 bản đặc biệt khó khăn, trong đó nhiều bản của đồng bào dân tộc Dao – mà bản Cam là điển hình, đến nay vẫn chưa có điện lưới, đời sống còn nhiều tăm tối…

Thấy chúng tôi bước thấp bước cao trầy trật, Hường ái ngại: “Các anh chị vất vả rồi! Cũng may tạnh mưa 2 hôm nay, nên mới đi được ạ, chứ nếu vừa mưa xong là đường mòn trơn trượt, sạt lở, không xe nào dám qua; ngay cả muốn lội bộ vào bản thế này cũng là chuyện nan giải”.

Đã xác định lên chia khó với bà con, chuyện đường sá trắc trở, ăn ở tạm bợ là đương nhiên. Cái khó hơn với 2 cô giáo ở bản Cam chính là “hệ lụy” của tình trạng giao thông cách trở, khiến tỷ lệ học sinh đến lớp khá thấp. Cả bản vẻn vẹn 30 hộ gia đình người Dao, nhưng ở rải rác mỗi đỉnh núi chỉ vài nhà. Nhiều trường hợp nhà cách trường khoảng 5 km, nhưng phải băng rừng cắt núi mất cả nửa buổi mới đến nơi, nên phụ huynh đành gửi con ở lại trường, nhờ các cô giáo chăm sóc, cuối tuần mới xuống cõng con về.

Trao quà hỗ trợ bà con bản Cam

Vậy là các cô giáo phải để con nhỏ của mình ở dưới núi, nhờ cậy ông bà, để mỗi tuần 5 ngày liền cắm bản, chăm sóc “con thiên hạ”. Lớp học nhỏ chênh vênh bên sườn núi, ghép tất cả các cháu từ 2 tuổi đến 5 tuổi. Năm trước có 15 bé theo học, năm nay thêm 2 bé nữa, thành 17. Hầu hết các bé ăn ở luôn tại lớp, đêm ngủ với cô giáo, việc nấu nướng tắm giặt cho từng bé, đều một tay cô giáo lo cả.

Mỗi học sinh 3 – 5 tuổi ở bản Cam chỉ được hỗ trợ 5.000 đồng tiền ăn mỗi ngày, bao gồm cả củi lửa, còn trẻ 2 tuổi đi học không được hỗ trợ gì. Hàng tháng, giáo viên của trường ủng hộ một ngày lương và kêu gọi các nhà hảo tâm hỗ trợ gạo, mì, cá khô… để nuôi các con. Rau cỏ tự trồng được gì dùng nấy.

Người Dao ở bản Cam, 100% thuộc diện hộ nghèo, điều kiện vô cùng khó khăn. Mùa giáp hạt, một số gia đình không đủ ăn, vẫn phải sống nhờ vào gạo cứu đói của Nhà nước. Thành thử, cuối tuần đến đón con, bố mẹ các bé cũng chỉ biết vác theo bó củi, mớ rau để cảm ơn cô giáo.

Cũng là người Dao, cô giáo Chảo Thị Thủy chẳng ngại khó lên giúp bà con. Sự lo lắng bồn chồn của Thủy là bởi chuyện khác cơ… Gặng hỏi mãi, cô giáo trẻ mới lí nhí: “Khổ mấy em cũng chịu được, chỉ sợ… ma thôi ạ(!)”.

Lần đầu tiên em bé này biết đến chiếc kẹo ngon

Nghe có vẻ hoang đường. Nhưng cô giáo Nguyễn Thị Thu Hường tâm sự, không hiểu sao cứ nửa đêm về sáng là sát vách lớp lại có tiếng cuốc đất thình thịch, ra soi đèn chẳng thấy gì, vào nằm một lúc lại nghe như cũ. Mà nếu một người nghe thì còn bảo “thần hồn nát thần tính”, đằng này nhiều người kể thế, trong đó có giáo viên ở trường chính lên chơi và cả cán bộ xã lên công tác, ngủ lại trường.

Tôi tò mò mang chuyện này hỏi một “già làng” bản Cam là ông Chảo Chí Mình, sinh năm 1956. Ông cho biết, nhiều gia đình của bản vốn ở nơi khác, hồi 1979 – khi Trung Quốc gây chiến tranh biên giới – mới chạy về đây tránh giặc. Hồi đó cũng nghe nói quanh núi có mộ cũ, nhưng đang lúc lửa đạn, có ai để ý đâu. Tiếng cuốc đất thì “hình như mình có nghe, không chắc lắm”.

Đêm xuống rừng núi đen đặc, vài bóng đèn nhỏ mờ mờ càng khiến bản Cam mang nét liêu trai ớn lạnh. Đội tình nguyện viên “ra vẻ cứng cáp”, đốt đống lửa ngồi thi… kể chuyện ma, cười đùa cho qua canh khuya, vì muỗi cắn quá không ngủ nổi, càng khiến cô giáo trẻ đêm đầu ở bản sợ dúm cả người, chỉ dám thì thào năn nỉ: “Đừng kể nữa các anh ơi!…”

“Nhà tắm thiên nhiên” với “vòi hoa sen tự chế” của dân bản Cam

Nhưng đó là chuyện của mấy tháng trước. Giờ cô giáo Thủy đã tự tin nở nụ cười tươi tắn. Không “cứng cáp” thế, sao cùng chị Hường chăm lo “đàn con thơ” được chứ. Mấy bé 2 tuổi, đêm khóc nhớ mẹ, phải dỗ hết hơi, nghe “tiếng cuốc đất” hay không thì cũng mặc. Ban ngày lo nấu nướng giặt giũ đã đủ mệt, lại còn nhiệm vụ chính – dạy học cho đám trẻ ngơ ngác này cứ phải kiên trì lắm. Có những cháu trước khi đến lớp, đã theo bố mẹ vào ở tuốt sâu trong rừng mấy năm liền, không biết tiếng phổ thông, nhìn thấy ai cũng sợ. Có cháu còn bị câm điếc, khuyết tật, thiểu năng trí tuệ… đủ cả.

Thế mà “qua tay” các cô giáo đảm đang, các bé giờ ngoan ngoãn lễ phép lắm, thấy khách đến đã biết chào, nhận quà biết khoanh tay cảm ơn, bi bô vừa chơi vừa học, đáng yêu vô cùng! Chúng tôi mải chơi cùng bầy trẻ, cô Thủy phải nhắc: “Chị Hường với anh Phin đang đợi các anh trên đỉnh núi ạ”.

Vẫn cậu Trưởng bản Chảo Ống Phin tốt bụng, nhiệt tình dắt đám trai bản, phụ cô giáo Hường phát bụi rậm mở lối, leo mãi lên đầu nguồn con suối, tìm chỗ “xây bể thủy điện”. Chúng tôi cứ theo dấu phát cây mà leo. Dốc lắm chỗ gần như thẳng đứng, cành cây lòa xòa lẫn gai góc, leo người không còn tức ngực, đá trơn đầy rêu, trượt ngắn trượt dài; thế mà đám trai bản khuân được cái máy hơn 30kg với mấy chục mét đường ống to cỡ bắp chân. Thật quá nể!

Kéo đường ống lên núi “làm thủy điện”

Leo đến lúc mồ hôi đẫm áo, tưởng vắt ra mà uống được, mới tới “công trường”. Chẳng kịp chào hỏi gì, tôi vớ chai nước của cô giáo Hường, làm một hơi dài mới “lại hồn”. Cô giáo cười: “Tưởng các anh không lên được cơ! Nãy em leo phải nghỉ mấy chặng mà giờ chân vẫn run”.

Sau cái bắt tay “tái ngộ”, Trưởng bản Chảo Ống Phin giải thích: Nước suối không ổn định, mưa to thì nước lớn, nắng ráo lại chảy nhỏ lắm, nên phải tìm chỗ dốc nhất để tận dụng mạch nước chảy mạnh nhất. Nhà máy thủy điện xây hồ, thì ở đây cũng phải xây bể chứa nước, nối ống dài để nước “tăng tốc”, xối vào cánh quạt, làm quay tua-bin, tạo điện năng.

Phin cười hiền lành: “Làm kiểu này vất vả lắm. Lâu lâu cành khô, lá mục lấp bể, lấp máy, phải trèo lên “thông” mới chạy tiếp được. Điện nối trực tiếp, phải để đèn sáng suốt ngày đêm, rồi nước lớn nước nhỏ khiến đèn lúc sáng chói lúc đỏ quạch, nhanh cháy bóng… Nhưng có thêm điện về trường, về bản, ai cũng vui mà.”

Nói rồi, Phin quay ra cùng mấy thanh niên chèn nốt đám cọc đỡ đường ống, kê máy lại cho thật chắc. Chỉ ít giờ nữa là điện về thôi.

Chiếc máy phát điện do Cô Son Charity tặng điểm trường bản Cam

Khỏi phải nói, vui nhất là 2 cô giáo cắm bản. Từ giờ, cô trò hết cảnh phải “ăn mò” bữa tối, đêm hôm chăm sóc các con thuận lợi hơn nhiều… Hàng trăm việc khác cũng đỡ hơn nhờ có điện. Đơn cử, ở bản gần như cả tuần, những lúc nhớ con quá hay nhà có chuyện gì mà điện thoại hết pin thì “bó tay”. Rồi ít lâu, xem nếu điện tương đối ổn định, có thể kiếm cái tủ lạnh bảo quản thức ăn trong tuần, không như bây giờ chỉ đầu tuần – cô giáo mới từ nhà lên thì các bé mới được ăn thịt, còn suốt tuần bữa cơm nào cũng đạm bạc muối vừng, rau luộc, cá khô…

Quan trọng hơn, ánh điện sẽ mang lại thêm niềm tin và nghị lực nơi bản nhỏ hẻo lánh, xua đi cô quạnh mịt mùng những đêm dài giữa rừng sâu núi thẳm.

Nói chuyện điện thoại “khoe” với Chủ tịch Cô Son Charity, tôi nghe chị Trà My nói như reo: “Tuyệt quá em ơi! Nhớ tìm thêm điểm bản phù hợp nhé. Chị muốn nhân rộng mô hình tài trợ này.”

Đường xuống núi tối sẫm, đêm lại loang dần. Nhưng bản Cam đã không còn nét liêu trai…

Nguyễn Việt

Kiểm tra sức nước trước khi vận hành máy phát

Đêm vui hiếm hoi của các bé người Dao ở bản Cam