Bắn cá suối chân núi Hang Chùa

Gói xong cho khách mấy bọc thuốc lổn nhổn cành cây chẻ nhỏ lẫn với quả khô, lá rừng, anh Bùi Văn Lanh vội chạy ra sân phụ vợ cào đống ngô phơi dở nắng, kịp chạy cơn mưa rào đang lăm le trút nước.

Anh bạn tôi bị sỏi thận, lại hãi cảnh nằm viện với thuốc tây, chẳng hiểu nghe ai mách mà rủ tôi tìm lên xóm Á Đồng (xã Yên Trị, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình) lấy thuốc nam. Anh khen thuốc hay lắm, sỏi trong thận to, bác sĩ khuyên nên mổ ngay, vậy mà chỉ uống mươi ấm thuốc của “ông lang Lanh”, chụp X-quang kiểm tra thấy sỏi đã tiêu gần hết.

Có lẽ thuốc tốt thật, nhưng ở miền núi giăng bốn mặt, thi thoảng mới có khách, mỗi ấm thuốc 25.000 đồng chẳng thể giúp gia đình “ông lang” no đủ được.
Thế nên không khó hiểu khi trong nhà “ông lang Lanh” chỉ có ít thuốc trên gác bếp, còn thì ngô lúa vừa thu hoạch về tung tóe khắp nơi như mọi gia đình nông dân chính hiệu.

Vuốt mồ hôi sau khi dọn ngô, anh Lanh sực nhớ một chuyện quan trọng: “Mưa thế này cá trong hang hay lên lắm, lát nữa tạnh đi xem có bắn được con nào không”. Nhưng lục lọi một hồi, anh thất vọng lôi ra cây cung thô sơ làm bằng tre không biết sao đã gãy gập, dây cung mục bởi lâu không sờ đến, ống tên thì chẳng còn mũi nào.

img_8018

Đường lên Chùa Hang mới được nâng cấp

Không đi săn được thì nghe chuyện săn vậy. Anh Lanh kể, xóm Á Đồng có dòng suối từ trong lòng núi chảy ra trong vắt, mùa đông thì ấm, mùa hè lại mát. Bình thường suối khá nhỏ, nhưng sau mỗi trận mưa kéo dài, nước thường dâng tràn ra ruộng. Nguồn suối xuất phát từ núi Hang Chùa gần Quốc lộ 12B – tuyến đường chiến lược thời đánh Mỹ, thông từ các huyện Yên ThủyLạc SơnTân Lạc (đều của tỉnh Hòa Bình) qua Nho Quan, Tam Điệp, Yên Mô xuống tới vùng biển Kim Sơn (Ninh Bình), giúp nối liền vùng Tây Bắc với các tỉnh duyên hải Bắc Bộ bằng hành trình ngắn nhất.

Trong núi Hang Chùa và khu vực lân cận là cả một hệ thống sông ngầm chảy thông lòng núi đá. Dấu tích lòng sông xưa còn phơi bên chân núi, với những phiến đá lõm mặt do nước chảy bào mòn, lẫn trong um tùm cỏ dại và lau lách. Con sông đã “lặn” xuống lòng đất, nhưng dòng nước ngầm chưa bao giờ cạn, dẫu nhiều đợt khô hạn kéo dài, đất Yên Thủy nứt nẻ, nước vẫn xanh mát dưới cửa hang trong núi.

Sông ngầm có rất nhiều cá, ngày xưa không ai dám bắt, cũng bởi trên núi có  ngôi chùa cổ, nghe đồn thiêng lắm, tên gốc là Thanh Lam Tự, dân xóm Á Đồng quen gọi là Chùa Hang, nằm trong động Văn Quang. Người trong vùng hay rỉ tai nhau những truyền thuyết thần thánh hiển linh ở núi Hang Chùa, coi đàn cá như đội thần binh cai quản con sông ngầm, nếu bắt cá thì nguồn nước sẽ vĩnh viễn lặn vào trong đất.

Nhưng lâu dần, thấy cá sông ngầm chẳng khác cá ở các sông suối khác, cũng là cá chép, cá trôi, cá mương, cá nheo, nên vài người bạo gan bắt về ăn. Thấy “an toàn”, nhà nhà rủ nhau cùng bắt cá, ngày trước cứ ba tháng một lần, cả xóm tụ tập ở khe suối thông với sông ngầm dưới chân núi Hang Chùa để tát cá.

Dòng sông ngầm như cái kho chứa cá, bắt mãi vẫn nhiều, cá to vài kg là bình thường. Sau những đợt mưa kéo dài, cá trong hang theo nước tràn ra đồng, ra bãi, dân xóm lại nô nức vác chài, xách vợt đi săn cá. Nhiều lần, dòng nước cuốn từ trong hang ra cả những bộ xương cá dài hàng mét, nằm vương vãi trên đồng sau khi nước rút. Bây giờ cá đã vãn hẳn so với trước, nhưng hễ nước dâng là vẫn bắt được cá to…

img_8020

Khi nước dâng, cá dưới sông ngầm sẽ ra suối theo cửa hang này

Ngớt mưa, tôi đi tắt qua ruộng ra núi Hang Chùa. Đồng trơn vắng lặng bên rặng núi trập trùng, chợt gặp một phụ nữ luống tuổi từ trên núi xuống, vác khệ nệ một bọc to những con ốc thân dẹt, to cỡ chén uống trà, con màu xanh rêu, con lại màu trắng đục. Chị xởi lởi: “Người miền xuôi có ăn thử ốc núi không? Giống này còn gọi là ốc thuốc, do nó ăn thảo dược trong rừng, thịt bổ lắm”.

Vừa nhanh nhẩu bốc ốc vào túi nilon cho khách, chị vừa kể: giống ốc này rất lạ, quanh năm trốn kỹ dưới lòng đất, chỉ mùa mưa mới thấy bò lên ăn lá, muốn bắt được nhiều ốc phải đợi sau cơn mưa, tìm dọc các hang đá hoặc những vạt rừng ẩm thấp nhiều lá cây mục nát.

Thao thao một hồi, chị mới hỏi tôi lần mò một mình vào đây làm gì? Biết khách đi tìm… cá, chị vội giục: “Chú rảo chân sang mé núi bên kia, lúc nãy tôi thấy có người bắn được con cá to lắm. Chỗ ấy ngập nước, chú lội cẩn thận kẻo ngã!”.

Cảm ơn người phụ nữ tốt bụng, tôi vác túi ốc, xắn quần chạy hộc tốc theo hướng chị chỉ, nhưng may mắn không phải lội, vì đã thấy một người đàn ông to béo, xách lủng lẳng cây cung tự chế và con cá nheo dài thòng gần bằng cánh tay. Anh tự giới thiệu tên là Nguyễn Văn Lập, sinh năm 1972, nhà ngay chân núi Hang Chùa.

1218201365654pm-nheo_song_2

Cá nheo sông ngầm có thể nặng tới vài kg

Anh Lập kể, loại cá nheo suối này, người Mường gọi là con băn băn, trước đây ở hang trong lòng núi có hàng đàn, nhiều con cỡ 3 – 4 kg, loại hơn 1 kg thì không đếm xuể. Mỗi khi nước dâng, dọc con suối ở chân núi và trên những khoảnh ruộng lấp xấp nước gần đó, cá thường lội ngoằn ngoèo như rắn trườn. Thoạt đầu, người trong xóm thường dùng nơm úp cá, tuy chụp được cũng nhiều, nhưng khi thò tay vào nơm để bắt thì lại bị ngạnh cá chích cho đau điếng. Do vậy họ mới chuyển cách bắn cá suối bằng cung tự chế, với mũi tên tre chẻ 3 nhọn hoắt.

Chỉ tay xuống đoạn suối nông, nước chỉ ngập đến cổ chân, anh Lập bảo: “Trông thế thôi, chứ bắn cũng không dễ, vì cá nheo rất nhanh, chúng lại không bơi thẳng mà lội theo hình chữ chi, nếu giương cung ngắm thẳng vào cá thì cầm chắc bắn trượt. Mình phải ước lượng nơi con cá sẽ bơi đến, lấy vật chuẩn, rồi bắn chặn đầu như bắn máy bay, mới hạ được nó. Hồi trước cá nhiều, bắn mỏi tay, nửa buổi được đến cả yến. Từ khi con suối bị chặn dòng, phục vụ thi công nâng cấp thắng cảnh Chùa Hang, cá ít hẳn. Cây cung này mình gác mái nhà  mấy tháng, hôm nay mới bắn được 1 con, cá to thế này bây giờ hiếm lắm”.

Anh Lập cho biết thêm, sông ngầm không chỉ nhiều cá nheo, mà còn lắm cá trôi, cá chép. Đi săn cá, thỉnh thoảng gặp cả những con ba ba đen sì. Gần đây, một người hàng xóm của anh Lập là bà Bùi Thị Hạnh liên tiếp bắt được 4 con ba ba…

pa-pinh-top_2__73319_zoom

Món cá nướng kiểu truyền thống của người Mường

Theo chân anh Lập, tôi leo lên Chùa Hang. Động Văn Quang không cao lắm, nhưng khá đẹp với nhũ đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng. Trước chùa có bàn cờ bằng đá, nghe nói từ thời Phong kiến đã có. Trên vách động tạc 4 chữ lớn: “Lăng tiêu triệu bích” (núi biếc cao trong sương mờ ảo) cùng mấy câu thơ tiếng Hán:
“Thanh cao nhất động trấn hùng quan
Vạn khoảng thiên thai, tứ hạ hoàn
Biệt ái, Văn Quang khai nhãn phúc
Bút phùng hoành tả toại doanh sơn.”

(Có người dịch thơ rằng: Hang động thanh cao giữa hùng quan – Bốn phương chen đứng trập trùng san – Bệ Văn Quang toả ngàn ánh phúc – Đưa bút đề thơ tạc núi non).

Thời trước Cách mạng, người Pháp dự định xây khu du lịch nghỉ dưỡng giữa vùng sơn thủy hữu tình này, có thời gian họ huy động dân phu đắp đập ở khu vực xóm Đôi, xóm Rại gần đó. Đến thời đánh Mỹ, lòng núi Hang Chùa được dùng làm kho vũ khí. Ngay trên dòng sông ngầm, công binh đã đào xuyên lòng núi đá, xây một căn hầm khổng lồ. Súng đạn cất dưới bóng chùa, ngay bên đường 12B chiến lược, máy bay giặc đêm ngày quần thảo trút mưa bom bão đạn, nhưng kỳ lạ là không trái bom nào rơi trúng núi Hang Chùa.

Sau khi đất nước thống nhất, kho vũ khí được chuyển đi, lòng núi lại thành kho bạc. Một người dân xóm Á Đồng là ông Nguyễn Văn Tưởng, nay đã gần 90 tuổi, hồi đó làm phó trưởng Công an huyện Yên Thủy, được giao phụ trách đội bảo vệ kho bạc. Theo ông Tưởng, kho Chùa Hang chủ yếu chứa tiền xu, ước tính 4.000 hòm, mỗi hòm nặng khoảng 50 kg. Do hang động ẩm ướt, tiền kim loại bị gỉ nhiều, phải chuyển đi nơi khác. Từ đó, hầm bị bỏ hoang…

Có hàng chục cửa dẫn tới dòng sông ngầm, nhưng đường vào khá gập ghềnh, có chỗ chỉ đủ lọt một người chui. Giữa lòng hang, một khúc sông lộ diện như hồ nước nhỏ sau màn hơi nước mơ màng giữa vô số nhũ thạch hoa đá trên nóc hang. Có chỗ, những vỏ ốc hóa thạch xếp chồng lên nhau thành đống cao trong hang động, theo giới khảo cổ thì đó là dấu vết nền “Văn hoá Hoà Bình”, là “bếp ăn” của người xưa.

img_8022

Đàn cá nhỏ trong hang khá dạn người

Ra khỏi động, anh Lập dẫn tôi xuống chân núi, chỉ vào một miệng hang ngập nước, cho biết đó là “cửa ra” của đàn cá dưới sông ngầm mỗi lúc nước dâng. Dưới mặt nước gần miệng hang, đàn cá nhỏ tung tăng có vẻ rất dạn người. Nếu không đi bắn cá, đợi khi nước rút, dùng dây câu móc mẩu thịt dòng xuống miệng hang, nhiều lần anh Lập vẫn lôi lên được cá nheo to.

Đưa con cá “chiến lợi phẩm” cho vợ, anh xoa tay bảo, món này xắt khúc, ướp mắm tiêu riềng sả, cặp vào thanh tre nướng là nhắm hết chai 65 như bỡn. Cầu kỳ hơn thì mổ cá bỏ ruột, cho gia vị và lá thơm vào bụng cá, khâu lại rồi ốp cá trong bẹ chuối, trát kín bùn bên ngoài đem đốt rơm, chừng 1 giờ sau mới lấy xuống đập ra, tước bẹ chuối bóc ra con cá thơm lừng.

Thấy tôi ngạc nhiên nhìn anh “vô tư” vốc nước ở miệng hang uống ừng ực, anh Lập cười hề hề: “Nước ở đây mát lành ngọt lịm, không cần đun sôi vẫn uống tốt. Dân xóm mình toàn dùng nước sông ngầm thôi. Lấy nước này nấu cơm thì chẳng muốn ăn cơm nơi khác nữa. Dịp lễ tết cũng lấy nước ở đây về luộc bánh chưng, pha trà đãi khách. Dù mưa lũ dữ dội thế nào, chỉ tạnh mưa một lúc là sông ngầm sẽ trong vắt trở lại…”

Nguyễn Việt

img_8028

Non nước Yên Thủy