Anh em nhà “ma lươn”

“Chuyện lươn với chạch thì có gì đâu mà nói! Vợ anh đang nấu lươn om hoa chuối, mời chú vào uống rượu nhắm lươn đồng Tam Đảo xem có ngon hơn lươn vùng khác không nhé” – anh Nguyễn Văn Năm xởi lởi mời khách lạ lần đầu sơ kiến. Với anh, săn lươn đơn giản là một nghề như mọi nghề khác, nhưng cái “không có gì” ấy, tôi theo anh cả ngày vẫn nghe chưa hết chuyện…

Ngôi nhà 2 tầng khang trang của gia đình anh Năm tọa lạc ngay “mặt tiền” con đường chính vào xã Văn Yên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), gần đền thờ Thái phó Vinh quốc công Lưu Nhân Chú. Gần 600 năm về trước, tướng quân Lưu Nhân Chú rời quê nhà Thuận Thượng (xã Văn Yên ngày nay) tìm vào Lam Sơn tụ nghĩa cùng Lê Lợi, dự hội thề Lũng Nhai năm 1416. Tướng Lưu Nhân Chú đã chỉ huy nghĩa quân chặn giặc tại ải Chi Lăng năm 1427, đánh tan 10 vạn quân Minh, giết Tổng binh Liễu Thăng.

Xã Văn Yên nằm tại vùng được mệnh danh là đất thiêng, căn cốt long mạch của dãy Tam Đảo, kéo dài về tận núi Tản Viên (huyện Ba Vì, Hà Nội). Giữa một vùng rộng lớn chỉ toàn núi đất, lại án ngữ 2 ngọn núi đá như đôi voi chầu đền, dân bản xứ tôn xưng là núi Văn và núi Võ, mỗi dịp xuân về lại nô nức lễ hội tri ân tiền nhân…

Đền thờ Thái phó Vinh quốc công Lưu Nhân Chú ở xã Văn Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Anh Năm cười hóm hỉnh: “Nhà mình quê gốc ở đây, nhiều đời sống bên núi Văn núi Võ thế mà chẳng hiểu sao lại “phát” về nghề… bắt lươn! Thôi thì có tướng cũng phải có quân, có người thành đạt làm ông nọ bà kia thì cũng phải có người lặn lội ngoài đồng tìm đặc sản phục vụ bếp núc chứ(!)”.

Anh Năm cũng bảo, chẳng hiểu chuyện “long mạch hổ mạch” nó thế nào, chỉ biết đất Văn Yên nằm dưới chân dãy Tam Đảo, mưa nhiều, vừa có đồng lại có rừng, lắm suối nhiều khe, đi đường nào cũng phải mấy bận vượt ngầm lội suối… nên có nhiều chốn cho giống lươn chạch sinh sôi.

Từ đời ông nội của Năm, gia đình đã mưu sinh bằng nghề săn lươn. Hồi đó lươn nhiều lắm, người ta thường men theo bờ đầm, dọc suối, hoặc chọn những vũng nước đọng sau cơn mưa rào, nơi có nhiều bụi cỏ để đặt ống trúm bắt lươn. Ống trúm làm bằng tre dài chừng một thước rưỡi, một đầu để nguyên mắt tre, đầu kia dùng làm miệng trúm, lắp thêm cái hom hình phễu đan bằng lạt dài chừng gang tay, để lươn vào trúm rồi là không chui ra được. Người ta còn dùi lỗ, xỏ que ngang để cắm ống trúm xuống đất cho ống không bị trôi, đuôi ống trổ lỗ lấy không khí giữ lươn sống.

Mồi nhử lươn thường dùng giun, cua ốc nhỏ giã nhuyễn với đất sét, vo viên nhét vào ống. Ống trúm phải được đặt sao cho miệng ống xuôi theo chiều nước chảy và đặt nghiêng để đuôi ống không bị chìm xuống nước… Mỗi buổi đặt chừng trăm ống là thế nào cũng đủ lươn bán và để nhà ăn.

Bố anh Năm tiếp nối nghề săn lươn của ông nội, và cũng chỉ với cái nghề quanh năm lội bùn ấy, cùng ít sào ruộng manh mún, mà nuôi được tới 9 người con. Trong số các anh chị em, có hai người cũng theo cái “nghiệp lươn” của gia đình, là anh Ba và anh Năm.

Anh Nguyễn Văn Ba trổ tài bắt lươn bằng tay không   Ảnh: N. Huân

Từ nhỏ, hai anh em đã thích theo cha lội đồng đặt trúm và nhanh chóng thành thục một “trò chơi” hấp dẫn trong lúc mưu sinh: câu lươn. Cách câu này có thể dùng chiếc cần tre ngắn, hoặc đơn giản chỉ có sợi cước với lưỡi câu mắc mồi giun. Tìm được hang lươn, Ba và Năm móc giun vào lưỡi câu thả xuống nhắp nhắp. Con lươn vừa háu đói vừa hung hăng, lao lên đớp mồi lôi tuột xuống đáy hang.

Muốn câu được lươn, không thể giật như khi câu cá, vì lươn rất khỏe và thậm chí chúng còn hung dữ nếu đang giữ trứng trong hang vào mùa sinh sản, chúng có thể cắn hoặc ghì mạnh đến đứt sợi dây câu. Vậy nên người câu lươn phải giữ dây câu một cách “vừa phải”, không chặt quá cũng không lỏng tay, đợi tới khi lươn không lôi dây nữa thì kéo nhẹ cho dây câu thẳng ra và búng ngón tay vào sợi dây cho rung lên, mục đích là để lưỡi câu đang dính miệng lươn cũng “rung” theo, khiến con lươn không chịu nổi đau phải trồi ra khỏi hang, chịu phép bị tóm.

Nói thì dễ, chứ hai cậu bé phải trầy trật nhiều ngày mới thuần thục cách gỡ những con lươn trơn tuột ra khỏi lưỡi câu để thả vào giỏ. Anh Năm kể: “Bắt lươn mà cứ nắm cả bàn tay vào thân nó thì rất dễ bị sẩy, lươn chuồi ra thoát ngay. Lúc gỡ lưỡi câu, phải dùng ngón giữa, ngón trỏ và ngón áp út như chiếc “đinh ba” ghìm chặt cổ lươn. Cái khoản bắt lươn bằng tay không thì ông Ba nhà tớ là vô địch, anh ấy chỉ cần dùng ngón tay giữa bấm chặt thân lươn là con lươn khỏe đến mấy cũng không thể thoát”.

Nghề mò lươn suốt ngày dầm bùn, lội nước

Lớn thêm một chút, cùng giỏi bắt lươn, nhưng hai cậu bé Nguyễn Văn Ba và Nguyễn Văn Năm dần bộc lộ hai “thiên hướng” khác nhau. Cậu anh Nguyễn Văn Ba bám bố hơn và rất nhanh chóng tiếp thu các thủ thuật, kinh nghiệm săn lươn. Chỉ vài năm theo bố lặn lội ngoài đồng, kỹ năng bắt lươn của Ba đã vượt hẳn bố – người vốn dĩ đã được dân địa phương liệt vào hàng “cao thủ sát lươn”.

Còn cậu em Nguyễn Văn Năm thì càng lớn càng ít trực tiếp lội đồng bắt lươn – với cậu đó chỉ như một thú tiêu khiển, còn công việc “kiếm cơm” chính là “tổ chức tiêu thụ”, gom lươn của bố và anh bắt, cũng như thu mua từ các thợ săn lươn khác trong vùng để bán lại cho dân buôn. Anh Ba bắt lươn nhanh thế nào thì anh Năm bán lươn “mát tay” như thế. Năm nay họ đều đã ở tuổi ngoài 50, theo “nghiệp lươn” dễ đến 40 năm, nổi tiếng đến mức về xã hỏi anh em nhà “ma lươn” này thì ai cũng biết.

Bà con lối xóm vẫn trầm trồ kể chuyện bắt lươn của anh Nguyễn Văn Ba như những kỳ tích có thể đưa vào “guiness”. Mấy người đi làm đồng có lần thấy anh Ba hai tay cầm hai con lươn nhảy lò cò dưới ao, họ tưởng anh dẫm phải mảnh chai, chạy lại định kéo lên bờ. Đến bờ ao, ai cũng kinh ngạc khi anh Ba tự nhảy lên bờ được với con lươn thứ ba kẹp dưới chân. Họ chỉ biết le lưỡi, lắc đầu: “Ông này đúng là con ma lươn!”.

Mọi người còn phục anh Ba, anh Năm ở chỗ sống nhờ vào con lươn nhưng họ không tham của trời, chỉ chọn bắt lươn to chứ không bao giờ bắt lươn bé, kể cả lươn to đã bắt được mà thấy con lươn mang trứng là thả ngay. Như anh Ba, ngày nào cũng đều đặn lội khắp đồng trên ruộng dưới, ao chuôm khắp huyện đều mò mẫm, riêng hai tháng mùa nước lớn thì anh nghỉ, không đi săn trong thời gian lươn sinh sản và nuôi con. Với năng khiếu thiên phú, hồi trước lươn nhiều hơn bây giờ, mỗi ngày anh dư sức bắt hơn yến lươn, nhưng anh chỉ kiếm đủ 4 – 5 cân là “rút quân”, không bao giờ bắt quá 40 con lươn to trong một buổi săn.

Những cánh đồng khu vực quanh núi Văn, núi Võ vẫn còn nhiều chỗ cho loài lươn sinh sôi

Đặc biệt, anh Ba chỉ dùng tay không để bắt lươn. Anh rất ghét những người tham lam sử dụng xung điện tận diệt hết cả lươn chạch cá tôm lớn bé. Nhiều nông dân xã Văn Yên từng được làm “khán giả” cho một cuộc thi độc nhất vô nhị giữa đồng. Số là, một lần xách giỏ ra ruộng, anh Ba gặp vài người đang dùng xung điện bắt lươn, nên đã đến “khuyên can”. Mấy người này chẳng những không nghe, còn cười cợt “lý sự” rằng nếu không dùng xung điện thì chẳng lẽ tay không bắt lươn? Nào ngờ, anh Ba bình thản đối đáp: “Nếu tay không bắt được nhiều lươn hơn thì phải bỏ xung điện nhé?”

Cuộc thi săn lươn được tiến hành ngay lập tức, rất đông người bỏ cả làm đồng đến xem. Nhóm “xung điện” hùng hổ nhảy xuống đầm khua sào sục vào các đám rong rêu cỏ dại, một lúc rồi họ cũng bắt được vài con lươn nhỏ. Ngoảnh lại, họ tá hỏa khi thấy anh Ba thong thả lội dọc bờ đầm, chỉ hai tay mò xuống nước mà cứ một vài phút lại quăng lên bờ một con lươn béo lẳn. Chỉ sau 15 phút, anh Ba đã bắt ngót chục con lươn to. Nhóm “xung điện” chào thua, chấp nhận thu đồ nghề “cuốn gói” đi nơi khác làm ăn, còn nông dân Văn Yên được một phen hỉ hả…

Nhưng “một cây làm chẳng nên non”, đất có vậy mà người ngày càng đông, ao đầm đồng ruộng thu hẹp dần, khiến lươn ít dần và càng ngày càng khó bắt, người ta buộc phải sử dụng xung điện tràn lan, bắt cả những con lươn “chưa làm giấy khai sinh”. Nếu không nhờ đặc tính sinh sản rất nhanh và nhiều, chắc con lươn đã biến mất khỏi đồng ruộng Văn Yên như nhiều giống cá tôm khác.

Sau hơn 40 năm theo dấu lươn chạch, anh Nguyễn Văn Ba cũng đã phải cùng gia đình chuyển sang làm chè, chỉ thỉnh thoảng mới đi bắt lươn một buổi, kiếm chút thức ăn tươi và cũng để đỡ nhớ nghề. Còn anh Nguyễn Văn Năm, tuy vẫn làm “đại lý lươn”, trong nhà lúc nào cũng có lươn đồng bán, nhưng cũng phải kinh doanh thêm mấy mặt hàng khác, bởi đã qua rồi cái thời cả nhà chỉ trông vào con lươn mà no đủ.

Nghề chính của người dân Đại Từ vẫn là làm chè

Tôi phải đợi đến nhá nhem mới gặp được anh Ba đi làm chè về. Hỏi chuyện lươn, như được bắt đúng mạch, anh kể say sưa: Lươn có hai loại chính, phân biệt bởi cái bụng màu vàng hoặc ngà trắng. Đi bắt ngoài đồng thường chỉ được lươn vàng, còn giống lươn bụng trắng lưng đen (thường gọi là lươn bông) lại thích sống ở hồ ao, mương nước. Về màu sắc là vậy, còn phân biệt theo đặc tính cũng có 2 loại: lươn ta cứ chúi đầu xuống mà trườn, còn lươn hổ mang khi bò thường ngóc đầu lên, nhiều người ngỡ là rắn không dám bắt, nhưng thịt lươn nào cũng rất ngon.

Con lươn khỏe lắm, mùa đông chúng ngủ sâu dưới bùn, nhiều khi ở những ao cạn khô nứt nẻ, nếu đào đất vẫn có thể thấy lươn. Lươn thích làm hang ở những vùng lầy ngập nước nhiều cỏ, đất bùn hoặc đất thịt pha sét. Cái lỗ nào có vệt bùn non trào lên thành một vòng tròn như cái màng màu trắng hoặc hơi vàng là đích thị hang lươn. Đây cũng là dấu hiệu phân biệt hang lươn với hang cua, hang rắn. Màng lươn nước trong, màng cua nước đục, màng rắn lúc đục lúc trong, cũng phải tinh ý một chút mới không nhầm. Nếu cẩn thận không muốn thò tay vào hang thì dấn mạnh bàn chân xuống bùn phía cuối hang, con gì nằm trong hang cũng sẽ nhào ra, chỉ cần nhanh tay chộp. Còn nếu săn lươn ở những khu vực bùn sâu, cũng phải dùng chân dẫm liên tục để “khua” lươn chồi lên. Đôi chân cũng là “ăng ten”, chú lươn xấu số nào chạm phải là khó thoát…

Cao hứng, anh Ba nhảy xuống khoảnh ruộng ngập nước gần nhà, hai tay lùa dọc theo bờ cỏ một lát và giơ lên con lươn vàng béo mập. Tôi bái phục, nhưng thắc mắc sao anh có thể tìm được lươn giữa chỗ nước ngập khá sâu như thế? Anh Ba cười hiền lành: “Tớ cũng chẳng biết nói thế nào. Nhưng mỗi khi lần tay đến gần chỗ có lươn là bàn tay tớ có cảm giác hơi khác lạ, như là linh tính. Nên tớ đi săn lươn chủ yếu dùng tay chứ không dùng mắt, vì nhắm mắt cũng bắt được lươn”.

Anh Năm tiếp lời anh trai: “Trời cho ai năng khiếu gì thì được cái đó. Mình cũng tay không bắt lươn được, nhưng cảm giác lươn thì kém hẳn anh Ba, đi săn chung chẳng bao giờ được nhiều như bác ấy cả”.

Lươn tự nhiên giờ hiếm con to

Anh Ba kể tiếp, còn có cách khác để bắt lươn, như dùng chĩa – làm bằng ống sắt tròn đường kính cỡ một phân, dài khoảng một thước, mũi chĩa đập mỏng và chẻ ra làm hai, cứ xiên quanh hang lươn, nghe động tức là xiên trúng lươn, phải ghì xuống thật chặt, rồi đào đất theo mủi chĩa mà bắt lươn. Trong Nam vào mùa nước nổi, người ta còn cắt cỏ gom thành đống ven ruộng để dụ lươn vào, rồi xúc bằng rổ tre hoặc quây lưới nilon. Dù săn cách nào thì “mùa lươn” hàng năm chủ yếu cũng kéo dài từ khoảng tháng 7 đến hết tháng 11 Âm lịch, vì thời gian này lươn đi kiếm ăn, rất béo. Hôm nào trời nắng nóng suốt ngày, đến tối có mưa rào, ban đêm lươn sẽ đồng loạt rời hang, kéo cả đàn bơi trên ruộng tìm mồi…

Mải chuyện, trời tối sập lúc nào không hay. Anh Năm phụ vợ bưng lên mâm đặc sản lươn Tam Đảo mời khách: “Bây giờ người ta nuôi lươn khắp nơi, lươn to béo nhưng thịt vẫn nhạt và bở, không thể sánh được với lươn đồng. Giống này nấu được nhiều món lắm, phổ biến nhất là lươn xào sả ớt, nướng cuốn lá lốt, nấu lẩu, làm miến… nhưng mình thích nhất món lươn om hoa chuối trong niêu đất này. Anh em nâng chén nhiệt tình nhé! Lát nữa đã có nồi cháo lươn giải rượu đây!”.

Ông chủ “đại lý lươn” giảng giải thêm về mấy món ăn: Muốn làm lươn không bị tanh thì phải mổ bằng thanh tre vạt nhọn, không dùng dao kim loại, chỉ cần khía ở “hậu môn” là kéo được hết ruột lươn ra. Cắt lươn thành từng khúc cỡ nửa gang tay, ướp với sả, bột nghệ, tỏi và nước mắm cho ngấm đều rồi mới cho ớt vào bụng lươn. Kế đến là cho tỏi băm vào chảo mỡ nóng, phi thật thơm rồi thả một nửa chỗ thịt lươn vào chiên vàng và trút vào niêu đất, chế thêm nước om một lúc mới cho thêm hoa chuối thái mỏng cùng chuối xanh xắt lát vào om cùng. Món lươn om hoa chuối đến khi múc ra tô mới thêm rau mùi tàu, rau ngổ, hành lá xắt nhỏ…

Lươn om hoa chuối

Lươn xào củ chuối, rau ngổ

Nửa chỗ thịt lươn còn lại được xào hành mỡ cho thơm trước khi cho vào nồi cháo nấu bằng gạo tám để nguyên hạt, ninh nhừ cho nở bung, thêm chút gạo nếp cho sánh. Món nào cũng thơm nức mũi.

Còn ông “ma lươn” Nguyễn Văn Ba thì tủm tỉm: “Người ta đồn rằng thịt lươn có tác dụng tăng “bản lĩnh đàn ông” đấy, chắc vì giống lươn sinh sản mạnh lắm. Nhiều người còn lấy máu lươn pha rượu uống, bảo là chữa được bệnh ngứa da, khó ngủ, cảm cúm… nhưng mình không dám thử vì sợ tanh”.

Nâng chén khi trời bất chợt chuyển mưa nặng hạt, hai anh em nhà “ma lươn” cùng hướng mắt theo mấy đường chớp rạch màn đêm vừa buông trên dãy Tam Đảo thâm u. Nụ cười của họ phảng phất nét hoài niệm: “Hồi xưa, sau cơn mưa thế này mà đi soi lươn thì đến chưa đến sang giỏ đã nặng trĩu”…

Nguyễn Việt