3 lần dâng sớ can vua, trung hiếu vẹn đôi đường

Trương Đỗ người làng Phù Đái, huyện Đồng Lại, nay là thôn Phù Tải, xã Thanh Giang (Thanh Miện), nhà nghèo nhưng từ nhỏ đã học rất giỏi, lớn lên văn võ song toàn. Năm 15 tuổi, Trương Đỗ lên trọ học ở nhà một người quen tại phường Nghi Tàm, thành Thăng Long, làm gia sư dạy học cho con cháu chủ nhà để được miễn tiền ăn ở, nhưng vẫn tranh thủ làm các công việc khác như hái dâu, tỉa cây, bủa lưới, để kiếm thêm tiền gửi về quê phụng dưỡng cha mẹ.

Một lần đi học, gặp quan quân đang tập bắn cung, hầu hết bắn trượt, Trương Đỗ đứng xem, phì cười. Viên tướng chỉ huy không hài lòng, gắt hỏi: “Ngươi có bắn trúng được không mà dám cười bọn ta?”. Trương Đỗ đáp: “Bắn trúng thì có khó gì”. Trương Đỗ bắn ba phát trúng cả ba. Mọi người đều trầm trồ khâm phục.

Đến đời vua Trần Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Khánh (1330 – 1372), Trương Đỗ thi đậu Thái học sinh (Tiến sĩ), làm quan tới chức Ngự sử đài tư giám đồng úy tự khanh Trung đô phủ tổng quản, thường gọi là Ngự sử đại phu. Ông đón cha mẹ lên kinh thành để chăm sóc. Ở triều, ông làm việc tận tụy, mẫn cán, liêm khiết. Đại Việt sử ký toàn thư có viết về ông: “Trương Đỗ là người thẳng thắn, không bè đảng, phóng khoáng, có chí lớn… Ông làm quan trong sạch, nghèo túng, không gây dựng điền sản, con cháu nối đời làm quan cũng có tiếng nghèo mà trong sạch”.

Tháng 7 năm Bính Thìn (1376), vua nước Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân quấy phá nước ta. Vua Trần Duệ Tông quyết định thân chinh đem quân đi đánh dẹp. Trương Đỗ thấy dụng binh chưa lợi, liền dâng sớ can ngăn rằng: “Chiêm Thành chống lệnh, tội cũng chưa đáng phải giết, song nó ở tận cõi tây xa xôi, núi sông hiểm trở, nay bệ hạ vừa mới lên ngôi, đức chính, giáo hóa chưa thấm nhuần được tới phương xa, nên sửa sang văn đức khiến nó tự đến thuần phục. Nếu nó không theo, sẽ sai tướng đi đánh cũng chưa muộn”.

Lời sớ của quan Ngự sử đại phu Trương Đỗ rất thống thiết, nhưng ý vua không thay đổi.

Tháng 9 và tháng 11 cùng năm ấy, Trương Đỗ lại dâng lá sớ thứ hai và thứ ba, phân tích hết điều lợi, điều hại, vua Trần Duệ Tông vẫn bỏ qua, lệnh cho các tướng dẫn 12 vạn quân nam tiến.

Ngày 23 tháng giêng năm Định Tỵ (1377), vua Trần Duệ Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Chế Bồng Nga sai một viên quan nhỏ tên là Thu Bà Ma đến giả đầu hàng, nói dối là Chế Bồng Nga đã trốn đi, chỉ còn lại thành không, nên nhanh tiến quân, chớ để lỡ cơ hội. Lúc bấy giờ, đại tướng quân của vua Trần cũng can rằng: “Cổ nhân có nói: Lòng giặc khó lường, thần xin bệ hạ hãy xét kỹ lại”. Vua không nghe, rồi ào ạt tiến quân, nhưng cánh quân ở phía trước và phía sau hoàn toàn cách biệt, giặc thừa thế xông ra đánh chặn. Vào giờ Tý ngày 24 tháng giêng, quan quân tan vỡ, Trần Duệ Tông cùng các tướng sĩ đều tử trận. Thừa cơ triều đình lộn xộn, tháng 6 năm đó Chiêm Thành lại đem quân vào đánh nước ta.

Đối với Trương Đỗ, sau ba lần dâng sớ can vua không được, ông treo mũ từ quan về quê dạy học. Trương Đỗ chăm sóc cha mẹ già từ việc ăn ngủ hằng ngày đến thuốc thang khi đau ốm. Ông và con cái thường ăn cơm độn, dưa cà là chính, dành gạo ngon, thức ăn ngon cho cha mẹ. Hết tiền mua thức ăn thì ông cầm cần đi câu, cầm nỏ đi săn,  phụng dưỡng cha mẹ già tròn đạo hiếu. Khi cha mẹ tạ thế, ông rất đau buồn, ghi lại những bài văn, những câu đối điếu, ai nghe cũng rơi nước mắt.

Trương Đỗ mất tại quê nhà. Cảm mến tài năng và đức độ của ông, nhân dân tôn ông làm Thành hoàng, thờ tự tại đình làng Phù Tải. Trải qua các triều đại phong kiến, Thành hoàng Trương Đỗ đều được ban tặng sắc phong ghi nhận công lao và cho phép bản xã thờ tự.

(sưu tầm)